19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử
NhungDenThoBacOTayNamBo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:32' 04-03-2024
Dung lượng: 18.9 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:32' 04-03-2024
Dung lượng: 18.9 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«1
Những đền thờ Bác
ở Tây Nam bộ
2«Nhiều tác giả
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN
ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ / Nhiều tác giả. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa - Văn nghệ
T.P. Hồ Chí Minh, 2014.
240tr. ; 21cm
1. Hồ Chí Minh,1890-1969 2. Đền -- Việt Nam -- Nam Việt Nam.
959.7042092 -- dc 23
N585
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«3
Những đền thờ Bác
ở Tây Nam bộ
N H I Ề U TÁ C G I Ả
Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ
T P. Hồ Ch í M in h - 2015
4«Nhiều tác giả
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hín giờ bốn mươi bảy phút ngày 02 tháng 9 năm
1969, trái tim của một con người vĩ đại của dân tộc
Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã ngừng đập.
Sáu giờ sáng ngày 04 tháng 9 năm 1969, tin Bác mất
được chính thức thông báo trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương đã tổ chức lễ tang, lễ truy
điệu Người, “biến đau thương thành hành động cách mạng,
dũng cảm tiến lên, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch”…
Ở miền Nam, với lòng thành kính và tiếc thương vô hạn Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Nam bộ, bằng
nhiều hình thức, đã lập bàn thờ, tổ chức lễ tang, lễ truy điệu
Bác, đồng thời xây dựng đền thờ Bác, ngay trong lòng địch, bất
chấp sự ngăn cản, phá hoại của kẻ thù.
Đã mấy mươi năm trôi qua, những đền thờ, phủ thờ
Bác Hồ trên cả nước, đặc biệt là khu vực Tây Nam bộ, vẫn
vững vàng, uy nghiêm tỏa ngát hương thơm và đón nhận đông
đảo người dân đến dâng hương, tham quan. Mỗi đền thờ Bác,
không chỉ là câu chuyện kể về tấm lòng thành kính của người
dân Nam bộ đối với Bác, mà còn là chứng nhân lịch sử, ghi
6«Nhiều tác giả
đậm truyền thống đấu tranh kiên cường của Đảng bộ và nhân
dân địa phương trong cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của
dân tộc, trong đó, có nhiệm vụ thiêng liêng là gìn giữ, bảo vệ
Đền thờ Bác Hồ. Những đền thờ ấy, đến nay ngày ngày vẫn
nghi ngút hương thơm, bởi nơi đây đã trở thành biểu tượng
bất diệt, là “Công trình của trái tim”, là “Pháo đài của niềm
tin”, là nét sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo của người dân
Nam bộ ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ được thực hiện trên
cơ sở tập hợp một số bài viết, bài nghiên cứu về tình cảm của
Bác Hồ đối với miền Nam và về những đền thờ Bác ở khu vực
Tây Nam bộ, được Đảng và nhân dân lập nên, được bảo vệ và
gìn giữ liên tục suốt hơn 45 năm qua.
Qua ấn phẩm này, mong rằng mỗi chúng ta, khi tưởng
nhớ về Bác, càng vun bồi thêm trong tâm hồn mình tinh thần
dân tộc, lòng yêu đất nước và quyết tâm phấn đấu, học tập và
làm theo tấm gương đạo đức của Người.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – VĂN NGHỆ
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«7
PHẦN MỘT
Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha.
(Tố Hữu - “Bác ơi!”, 1969)
8«Nhiều tác giả
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«9
CÁI NẮM TAY CUỐI CÙNG CỦA BÁC1
NGUYỄN VĂN LINH
1. TẤM LÒNG CỦA BÁC VỚI MIỀN NAM
T
hết được.
ấm lòng của Bác với miền Nam thật mênh mông
và sâu xa như biển cả, như núi cao, không sao nói
Trước hết là Bác thương nhân dân miền Nam. Tôi nói
“thương” theo nghĩa của đồng bào Nam bộ. Ngay từ khi đi
tìm đường cứu nước, cũng chính là Bác đã xuất phát từ lòng
thương yêu nhân dân ta, trong đó có nhân dân miền Nam bị
muôn vàn đau khổ dưới ách nô lệ của đế quốc, phong kiến.
Sau này Bác càng thương nhân dân miền Nam “đi trước về
sau”, bằng một tấm lòng của một vị lãnh tụ Đảng, lãnh tụ
dân tộc, lãnh tụ Nhà nước cách mạng. Lòng thương ấy biểu
1. Trích lược ghi bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy
viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh,
nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam Đảng Cộng sản Việt Nam,
tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ”
ngày 26-9-1985 tại TP. HCM. Tựa do Nhà xuất bản đặt
10«Nhiều tác giả
thị qua những lời nói, qua những hành động hằng ngày.
Nhất là qua ý kiến rất sáng suốt mà trong từng thời kỳ cách
mạng Bác đã đóng góp với Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, với Chính phủ và Tổng Chỉ huy quân đội,
cũng như các đoàn thể quần chúng và Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam để chỉ cho nhân dân miền Nam
con đường hành động đúng đắn chống lại quân thù và cùng
với toàn dân, toàn quân đấu tranh để giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, thoát ách ngựa trâu của bọn xâm lược
nước ngoài và tay sai.
Đi đôi với lòng thương đó là sự tin tưởng, tin tưởng
mãnh liệt của Bác đối với nhân dân Việt Nam, đối với nhân
dân miền Nam, đặc biệt là từ những phát súng kháng địch nổ
đầu tiên ngày 23-9-1945, mở đầu cho Nam Bộ kháng chiến
và sau đó là toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bác càng tin tưởng và càng thương yêu nhân dân miền
Nam hơn nữa là từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève); trong
khi miền Bắc ta đã được giải phóng, được tự do độc lập, bắt
tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhân dân miền Nam
vẫn còn bị quằn quại khổ đau dưới bàn tay bóc lột và tàn sát
đẫm máu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm rồi
đến bọn Thiệu, Kỳ... Trong hoàn cảnh như vậy, ngay cả trong
những thời kỳ khó khăn đen tối nhất, nhân dân miền Nam,
từ thành thị đến nông thôn, vùng rừng núi, vẫn một lòng
một dạ tin Đảng, tin Bác, ra sức đoàn kết, đấu tranh để giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa một bên
là nhân dân miền Nam ta chỉ có hai bàn tay trắng với tên
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«11
Mít tinh mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh
ở Sóc Xoài, Bến Tre năm 1946
đế quốc đầu sỏ, hùng mạnh nhất về quân sự, giàu có nhất
về kinh tế, khó khăn thật vô vàn. Địch đã huy động nửa
triệu quân Mỹ cộng với một triệu quân ngụy, ngoài ra còn
có thêm quân chư hầu, dùng đủ các loại vũ khí hiện đại (chỉ
trừ vũ khí hạt nhân); chúng đã dùng lực lượng đó để tàn
sát nhân dân miền Nam, trước hết là tàn sát những người
yêu nước. Trong khi đó ở miền Nam, một số lực lượng vũ
trang nhân dân xây dựng được sau chín năm kháng chiến
chống thực dân Pháp đã tập kết hết ra Bắc. Cách mạng
miền Nam có lúc tưởng như bị chìm mất dưới gót sắt của
quân thù. Nhưng, vốn đã hiểu rõ nhân dân miền Nam, Bác
vẫn tin chắc rằng đồng bào miền Nam với tính bất khuất,
chiến đấu cách mạng và tính năng động sáng tạo vốn có, sẽ
vùng lên cùng với cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
12«Nhiều tác giả
Bây giờ ta thấy rõ ràng quả đúng như vậy. Trong phong
trào đồng khởi chỉ với bập dừa làm súng giả, với trống mõ,
bà con đã tay không nổi dậy tước vũ khí của dân vệ, giải tán
bọn tề ngụy... từ đó tiến lên bằng cuộc đấu tranh “hai chân,
ba mũi” liên tiếp giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Lúc đó Trung ương Đảng có Nghị quyết 15, nhưng phải có
tinh thần và sức chiến đấu mãnh liệt như thế của đồng bào
miền Nam, Nghị quyết 15 mới được thực hiện thắng lợi. Để
có được tinh thần và sức mạnh đó, những lời động viên cổ
vũ của Bác Hồ đã có tác dụng rất đặc biệt. Đó là chất men
làm cho phong trào cách mạng ở miền Nam luôn sôi sục.
Yếu hơn địch mà luôn ở thế tiến công địch, làm cho chúng
thất bại liên tiếp.
Chúng ta còn nhớ mỗi lần đón Giao thừa, bà con ở
miền Nam đều hết sức chú ý lắng nghe lời chúc đầu xuân
của Bác. Tôi biết, ở ngay giữa Sài Gòn lúc ấy, có những xóm
lao động, khoảng vài ba chục gia đình lân cận, hiểu nhau,
liên kết với nhau tổ chức canh gác cẩn thận để mở máy thu
thanh nghe cho được lời chúc Tết của Bác. Đặc biệt là năm
1969 (sau cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968 - Tết Mậu
Thân), Bác chúc:
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«13
Cho đến bây giờ ta nghe lại vẫn còn thấy xúc động. Lúc
đó cách mạng còn đang rất khó khăn, nhân dân còn đang phải
chịu dưới gót sắt của giặc Mỹ và tay sai, ở thành phố nhung
nhúc quân địch, chính những lời cổ vũ của Bác đã giúp cho
đồng bào thấy rõ và tin tưởng ở sức mạnh tất thắng của nhân
dân. Đó là những lời biểu thị sự tin tưởng vào nhân dân, vào
chiến sĩ và cán bộ miền Nam, và cũng là những lời tiên đoán
đầy lạc quan, đầy tin tưởng. Bác đã thấy trước ngày thắng lợi,
ngày thống nhất, và Bác đã nói trước điều đó để động viên
đồng bào cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam. Những
lời đó không phải là không có căn cứ mà chính là xuất phát
từ lòng tin tưởng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ và cán
bộ miền Nam. Lòng tin tưởng đó đã biến thành hiện thực.
Hay như một ví dụ khác. Trong Di chúc, Bác đã viết:
“Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng
hơn mười ngày nay”. Rõ ràng không phải Bác không thấy
bao nhiêu triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ tàn
phá đất nước ta, bao nhiêu mánh khóe thâm độc về chính
trị, văn hóa chia rẽ nhân dân miền Nam, đầu độc thanh niên
miền Nam... 10 năm qua, ta còn rất nhiều khó khăn như vậy,
chúng ta vẫn xây dựng được khá nhiều. Cơ sở vật chất chưa
bao nhiêu, nhưng về xây dựng con người, ta đã làm được
khá nhiều việc, ở thành phố cũng như ở các tỉnh.
Chúng ta thấy rõ rằng Bác tin tưởng vào đồng bào và
chiến sĩ miền Nam nên Bác mới dặn dò như thế. Lời dặn dò
đó không chỉ là lời động viên cổ vũ chung chung mà chính là
nêu khẩu hiệu hành động cho nhân dân miền Nam, dựa trên
cơ sở lòng tin của Bác đối với đồng bào miền Nam, cũng
như nhân dân cả nước.
14«Nhiều tác giả
Tình thương và lòng tin của Bác thật là một nguồn cổ
vũ vô giá và hết sức lớn lao, nhờ đó nhân dân miền Nam đã
vượt qua mọi hy sinh gian khổ để cùng đồng bào cả nước
thắng hết giặc Pháp đến giặc Mỹ và tay sai. Làm cách mạng
lý trí thôi chưa đủ, mà phải có tình cảm. Tình cảm cách
mạng là một nhân tố rất cần thiết, rất quyết định. Bác Hồ đã
dành cho nhân dân miền Nam (cũng như cả nước ta) vừa
lý trí cách mạng (đường lối đúng đắn), vừa tình cảm cách
mạng tạo ra từ tình thương và lòng tin vô hạn của Bác.
Theo tôi, đó là một trong những nhân tố quyết định
cho thắng lợi của cách mạng, giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. TẤM LÒNG CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VỚI BÁC HỒ
Như lúc nãy tôi đã nói, tấm lòng của nhân dân miền
Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Mong rằng các
đồng chí ở các địa phương, các nhà khoa học nên sưu tầm có
kế hoạch và công phu hơn nữa những suy nghĩ và tình cảm,
những hành động và lời nói chân tình của đồng bào đủ các
vùng, các tầng lớp, các lứa tuổi, các dân tộc đối với Bác, để
thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác,
để thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác
và từ lòng kính yêu biến thành hành động cách mạng. Có rất
nhiều hành động của quần chúng mà ta chưa biết, có khi chỉ
là hành động rất nhỏ nhưng có ý nghĩa rất lớn.
Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt
được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội,
nhưng cuối cùng vì hai em ở tuổi vị thành niên, nó phải thả.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«15
Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu rất xảo quyệt. Trước
cửa xà-lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo:
“Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình
đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.
Với một việc nhỏ như vậy, ta thấy rõ tình cảm, sự kính
trọng của nhân dân miền Nam đối với Bác. Chính tình cảm
và sự tôn kính đó đã biến thành hành động cách mạng,
để biến yếu thành mạnh, để chiến thắng quân thù mạnh
hơn ta gấp nhiều lần, cả về tiềm lực quân sự và kinh tế.
Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ - ngụy
dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh
vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất
khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956,
hàng triệu quần chúng họp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu
tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền
lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ,
thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn,
đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và
cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó
cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh
nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của
Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành
công, đại thành công!
Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa
các vùng địch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi
thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác.
Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh
(Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải).
16«Nhiều tác giả
Chị em phụ nữ phường Tân Định, Sài Gòn
tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhiều nhà trí thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã
viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở
Sài Gòn v.v...
Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng
bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho có nơi đến trước khi đồng khởi có
chi bộ bị chúng bắt giết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới
ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được
bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình
hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương,
lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gởi bức thư đó ra
cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu
không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến
chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó. Sau đó,
Xử ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«17
kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam bộ xây dựng đề
cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15
của Trung ương. Như vậy, rõ ràng Nghị quyết 15 rất phù hợp
với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền
Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có
nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị
quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15,
Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.
Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính
trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính
trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung
ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy
của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên
mọi thắng lợi của chúng ta cho đến cả ngày nay.
Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn
18«Nhiều tác giả
Mười năm qua, ta đã vượt qua biết bao khó khăn, trở
ngại, trong cuộc đấu tranh để cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đã đạt được một số kết quả đáng mừng. Và gần đây,
cùng với cả nước, ra sức thực hiện các nghị quyết 6, 7, 8 cùng
Trung ương Đảng, chúng ta cảm thấy như luôn luôn có Bác
dẫn đường, chỉ lối, đúng như trong khẩu hiệu “Bác Hồ sống
mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Đây không phải chỉ là khẩu hiệu suông, mà là khẩu
hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Mọi người đem
hết nhiệt tình, phát huy hết sức năng động, sáng tạo, thực
hiện các chỉ thị nghị quyết của Trung ương Đảng, theo đúng
lời Di chúc của Bác. Đó là cách chứng thực bằng hành động
của mình rằng Bác Hồ vẫn đang sống mãi trong sự nghiệp
của chúng ta, cả trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
...
3. VÀI HỒI ỨC VỀ BÁC
Hồ...
Bây giờ tôi xin nói qua về một vài hồi ức của tôi về Bác
Năm 1963, ba năm sau đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính
trị Trung ương Đảng triệu tập ra Hà Nội báo cáo tình hình.
Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác
kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp,
tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam.
Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo
nâu, đi chân đất, Bác nói:
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«19
- A, chú Cúc đây phải không. Chú ở miền Nam ra,
trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân
miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung
ương cục đóng ở đâu?
Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:
- Thưa Bác, đóng ở Tây Ninh ạ.
Bác liền hỏi:
- Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến
chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và ban
lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải
tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người
được bao nhiêu?
- Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.
- Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú
hay chiến sĩ?
- Dạ, đó là anh em chiến sĩ thanh niên, chứ chúng tôi
không ăn hết được.
- Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?
- Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau đồng
khởi, bà con ở miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh
chính trị, theo đường lối “hai chân ba mũi”, vừa chống địch
càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà
con đã có đủ gạo ăn và nuôi kháng chiến. Ta cũng đã phá
được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên
đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu cho cả đồng bào và
chiến sĩ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.
20«Nhiều tác giả
- Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng
liệu có được lâu không?
- Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã
làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng
rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.
Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm
1975, đồng bào và chiến sĩ miền Đông vẫn không bị đói. Hồi
năm 1952, ở miền Đông Nam bộ ta chỉ có hai trung đoàn,
mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói,
phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng
Tháp) để có gạo ăn. Số ở lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm
lít gạo.
Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với
việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ và cán bộ. Từ
câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào và tình hình chung, rồi
Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn,
chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.
Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này
Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng với đồng chí Trần Độ.
Đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác, hôm nay cũng có mặt ở
đây) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được
Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả
tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.
Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với
Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm
và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi
người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần
Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«21
Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để
các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết
rằng nếu đồng bào và chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ
lo lắng biết bao nhiêu.
Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc
này Bác đã mệt nhiều, khi tôi được vào thăm thì Bác đã
không còn ngồi dậy để tiếp được nữa. Tôi ngồi trên chiếc
ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn tươi cười hỏi thăm tình
hình mọi mặt ở miền Nam như khi Bác vẫn còn đang khỏe.
Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có
treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình
chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho
biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu
cán bộ Bổ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến
sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!
Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các
đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không
ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam
ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí
trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã
không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác
thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết.
Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải
đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng,
gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền
Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.
Bác thật đúng là vị Cha già dân tộc.
22«Nhiều tác giả
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước
quây quần quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh trước phút lâm chung
Bác Hồ là người đã cầm đuốc soi đường cho Đảng ta,
nhân dân ta từ những khi còn trứng nước dưới thời thực dân
Pháp, qua Cách mạng Tháng Tám, rồi qua hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, qua bốn mươi năm từng bước
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tình cảm của Bác, tấm lòng của
Bác chính là nhân tố gây thành chất men để động viên toàn
Đảng, toán quân, toàn dân ta từ Bắc chí Nam vượt mọi khó
khăn, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để có được
như ngày nay.
Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«23
Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát - Đoàn Đại biểu Chính phủ cách mạng Lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt vòng hoa tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong vùng giải phóng
Phút tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong địa đạo Củ Chi, năm 1969
24«Nhiều tác giả
MIỀN NAM LUÔN TRONG
TRÁI TIM TÔI1
Giáo sư MẠC ĐƯỜNG
Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
B
ác Hồ của chúng ta là một lãnh tụ vĩ đại nhất của
thế kỷ XX, Người sáng lập ra Nhà nước công nông
đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, một Nhà nước do Bác Hồ
lãnh đạo đã đoàn kết được toàn dân đánh thắng phát xít
Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất dân tộc và
Tổ quốc toàn vẹn, một Nhà nước đấu tranh cho độc lập dân
tộc, cho thế giới hòa bình.
Bốn mươi năm của thế kỷ XX là bốn mươi năm rạng
rỡ của dân tộc Việt Nam (1945 – 1985), bốn mươi năm rạng
rỡ và sáng chói của bản sắc Việt Nam trước nhân loại với tên
gọi một con người cộng sản Việt Nam chân chính, Hồ Chí
Minh – vị lãnh tụ anh minh, người Cha, người thầy vĩ đại và
1. Trích “Bản sắc Việt Nam trong con người Việt Nam vĩ đại nhất”, của Giáo
sư Mạc Đường trong cuốn Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ,
NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 1987. Tựa do Nxb đặt.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«25
Bác Hồ kính yêu đối với tất cả trái tim và tâm hồn Việt Nam
yêu nước.
Bốn mươi năm qua là bốn mươi năm cực kỳ gian khổ,
bốn mươi năm trộn lẫn máu và lửa, nước mắt và niềm đau
thương vì lẽ phải sinh tồn và tình yêu nồng nàn của Tổ quốc
và dân tộc. Bản sắc Việt Nam thực sự đã tỏa ra một nguồn
sáng từ Bác Hồ của chúng ta cho cả một thế hệ con người
Việt Nam hôm bay và mai sau. Cái bản sắc Việt Nam ấy đã
được một người Xôviết lão thành sớm cảm nhận một cách
rất độc đáo. Ông ta viết “... Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một
thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một
nền văn hóa của tương lai” 1. Thật vậy, Bác Hồ của chúng
ta là một nhà văn hóa uyên bác. Nhà văn Cộng hòa Dân
chủ Đức J.Sternơ viết: Hồ Chí Minh là một bậc thâm nho,
không những giỏi văn học cổ điển Việt Nam và Trung Quốc
mà còn nói giỏi tiếng Nga và một số tiếng châu Âu, châu Á.
Người rất am hiểu văn học Pháp và trong thời thanh niên đã
từng đọc với tất cả niềm say mê tác phẩm của Victor Hugo,
Dô I.a, Anatol Franxơ...2. Không chỉ hiểu văn học, Bác còn
hiểu rõ thời sự chính trị và đời sống của các dân tộc. Nhà
báo Úc U.Bóc sét viết: “Người biết sử dụng rất nhiều thứ
tiếng Âu Á, đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước
của những người khách đến thăm”3. Thế nhưng, Bác Hồ của
1. Ôxip Mandextan. “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản”. Trong sách
“Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội 1985, tr.296.
2. G.Ster nơ. Bác Hồ như chúng ta đã biết, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”
tr.341.
3. U. Bócsét. Lịch sử sẽ dành cho người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại,
như trên, tr.342.
26«Nhiều tác giả
chúng ta lại là một con người rất mực Việt Nam “xa nước
ba mươi năm, một câu Kiều Người vẫn nhớ”1, Bác vừa đi
đường vừa đọc thuộc lòng Chinh phụ ngâm2. Bác còn nhớ
rõ trò chơi vật cù xứ Nghệ và nhớ cả những câu đố oái oăm
của thầy đồ nho Nghệ Tĩnh. Dù bôn ba nhiều năm ở nước
ngoài và sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn nhắc
câu “Trai Cát Ngạn, gái Đồ Lương”, hoặc chỉnh lại từ “nước”
thành “nác” theo đúng một câu ca phường vải trong dân
gian, Bác còn nói “Ru tam tam théc cho muồi” tức “ru em
em ngủ cho muồi” để lời hát cho sát đúng với thổ ngữ địa
phương3, mà ngày nay không phải bất cứ ai là người xứ Nghệ
đều có thể nhớ được cách nói đó. Cũng không ai có thể đoán
được chính Bác đã thổi ngọt một làn điệu dân ca bằng sáo
trúc trước mặt nghệ sĩ thổi sáo nổi tiếng Đinh Thìn4 và quan
khách. Đời sống riêng của Bác là một sự hội tụ của phong
cách Việt Nam, một sự kết hợp của những vẻ đẹp dân giã
trong các miền của đất nước. Một ngôi nhà sàn Việt Bắc
khiêm nhường và thanh tú, một ao cá thường gặp ở làng quê
Bắc bộ, một hàng rào dâm bụt thân thương của miền Trung,
một bóng dừa xanh, một gốc vú sữa cành lá sum sê đượm
tình Nam bộ. Bác dùng những vật dụng giản dị mà người
Việt Nam nào cũng biết. Một bộ đồ bà ba nâu như một vị lão
nông kính yêu, một chiếc quạt nan như trong thơ và cổ tích,
một đôi dép lốp cao su theo Bác đi đến mọi nơi. Bác thích
1. Chế Lan Viên. Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, xem “Muôn
vàn tình thân yêu” tr.78.
2. Phạm Văn Khoa. Những lời Bác dạy, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ” tr.68.
3. Minh Huệ. Bác dạy chúng tôi cất cao tiếng hát, như trên, tr.269.
4. Đinh Thìn. Một làn điệu dân ca qua tiếng sáo Bác Hồ, như trên, tr.228.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«27
món cá kho, canh chua và cá dòn xứ Nghệ. Bác còn thích
ăn những con cá Bác tự nuôi, những ngọn rau Bác tự trồng
và còn phân phát những thứ đó cho những đồng chí sống
gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng.
Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối, qua ruộng
lúa như một cụ già nông thôn, Bác còn bế em nhỏ bên nách
hoặc ngồi xổm đút thìa cơm cho trẻ như phong cách của mọi
người bình thường ta thường gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu
sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng lúng túng. Bản sắc Việt
Nam ở con người của Bác thật là đậm đà dân giã, thanh tao,
tinh tế, cao đẹp và trong sáng như muôn ngàn bức tranh sơn
thủy dân gian gộp lại. Bản sắc Việt Nam ở Bác Hồ còn tỏa
ra từ nguyên tắc sống “nặng nghĩa, trọn tình”. Phải chăng đó
là “lẽ phải và tình thương” của cách mạng mà gần đây đồng
chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thường nhắc đến? Hay đó là điều
mà Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã viết:
“Hồ Chủ tịch đối xử với người, với việc luôn luôn có lý, có
tình”1. Đối với kẻ thù của độc lập tự do, Bác nói “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”. Bác còn nói “Giôn xơn và bè lũ phải
biết rằng... Chiến tranh có thể phá hủy một số thành phố,
xí nghiệp có thể bị tàn phá song nhân dân Việt Nam quyết
không sợ!”2. đối với Cách mạng Tháng Mười Nga, với Lênin
và Liên Xô, Bác thường dạy “uống nước phải nhớ nguồn”.
Bản sắc Việt Nam trong con người của Bác còn thể
hiện ở lòng yêu mến sâu xa đối với miền Nam của Tổ quốc,
1. Phạm Văn Đồng. Tổ quốc, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ,
Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.314.
2. Hồ Chí Minh. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17 tháng
7 năm 1966.
28«Nhiều tác giả
một nửa Việt Nam còn đang đau thương sống dưới ách
thống trị của quân thù. Là một người yêu nước vĩ đại, một
người Việt Nam vĩ đại nhất, Bác không sao quên được mái
trường Quốc học Huế, làm sao quên được dòng sông Côn từ
miền đất khởi nghĩa của Tây Sơn, làm sao Bác có thể quên
được trường Dục Thanh ở Thuận Hải, quên đồng ruộng Cao
Lãnh – nơi cụ thân sinh yên nghỉ nghìn thu, quên Bến Nhà
Rồng – nơi Bác rời quê hương lên đường ra đi cứu nước. Với
tình cảm tha thiết và sâu thẳm đó, năm 1946 tại một cuộc
họp báo ở Paris, Bác đã thống thiết nói với mọi người rằng
“Nam bộ là máu của Việt Nam, là thịt của Việt Nam”1. Về sau
này, Bác còn nói “miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”.
Trong cuộc đời của Bác Hồ, Bác đã dành nhiều giọt
nước mắt nhất để khóc riêng cho miền Nam. Trong kháng
chiến chống Pháp, Bác đã khóc khi nghe kể những gương
chiến đấu anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Trong kháng
chiến chống Mỹ, Bác lại khóc nhiều hơn. Bác đã khóc khi
nghe câu hát “Miền Nam yêu quý ta ơi”2. Bác đã khóc nhiều
lần khi gặp các đại biểu từ miền Nam ra thăm thủ đô Hà Nội.
Bác ơi! Đời Bác muốn chẳng ai phải khóc
Nên Bác bao lần đã khóc miền Nam3.
Cho nên những năm cuối cùng của tuổi bảy mươi, tuy
sức khỏe đã suy giảm nhiều, nhưng nỗi nhớ miền Nam ở
Bác lại càng thôi thúc rạo rực hơn, ý chí muốn vào Nam
1. Phạm Duy Thông. Nhớ Bác Hồ, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.45.
2. Ái Liên, Nhớ Bác, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.187.
3. Hoàng Tố Nguyên. Con vẫn nghe tiếng Bác, Bác ơi, xem “Muôn vàn tình
thương yêu”, tr.95.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«29
thăm đồng bào càng mạnh hơn bao giờ hết. Hàng ngày, Bác
tập đi bộ và cố gắng thực hiện mọi sự chuẩn bị để mong sao
Bộ Chính trị đồng ý để Bác lên đường vượt núi trèo đèo vào
với miền Nam thương nhớ. Nhưng, Bác đã chưa đến được
với miền Nam, miền Nam chưa được nhìn thấy Bác thì Bác
đã ra đi và để lại cho non sông Việt Nam, cho đồng bào
Nam Bắc những lời di chúc thắm thiết tình người, sâu sắc
đại nghĩa và một lời nguyện ước sắt đá đối với miền Nam và
cả nước.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.
Có thể nói, trong suốt bốn mươi năm qua, lịch sử đã
đọng lại trong con người của Bác cũng như trong mỗi tâm
hồn Việt Nam một hình ảnh miền Nam anh hùng và đau
thương, và điều này đã chi phối mạnh mẽ đến mọi sinh
hoạt, suy nghĩ của xã hội và con người Việt Nam. Chúng
ta đã từng chiến đấu, sản xuất, học tập vì miền Nam ruột
thịt và lấy miền Nam để đọ sức với kẻ thù và cư xử với bạn
bè năm châu, bốn biển. Thơ ca văn học, hội họa, điêu khắc,
âm nhạc... và những sáng tạo trong ngoại giao, trên chiến
trường phần rất lớn cũng dành cho miền Nam yêu quý. Do
đó, đã hình thành trong mỗi con người Việt Nam những
tình cảm, suy nghĩ, cách ứng xử, quan niệm đạo đức, chuẩn
mực tư cách, những hành vi cụ thề, những sáng tạo vật chất
và tinh thần xuất phát từ lòng yêu quý miền Nam, tự nguyện
vọng chung của dân tộc về sự sum họp Nam Bắc một nhà.
Miền Nam đã trở thành một nhân tố rất quan trọng của bản
sắc Việt Nam trong hiện đại mà Bác Hồ là một hình ảnh tiêu
30«Nhiều tác giả
biểu nhất. Miền Nam đã yêu Bác Hồ với một tình yêu thật
kỳ diệu, thật mãnh liệt, bởi vì chính Bác là người thể hiện
cái chung nhất và cao quý nhất của Việt Nam, của con người
Việt Nam, hội tụ được phong cách khắp ba miền đất nước.
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nghệ sĩ Diệp Minh
Châu đã viết: “Hôm nay, trong cảnh vĩ đại của ngày độc lập
chưa từng có ở Nam bộ, sau khi nghe lời tuyên ngôn độc lập
của Cha, lời thống thiết hùng mạnh của Cha và lời ca Hồ Chí
Minh muôn năm của Đoàn thiếu nhi Nam bộ, con đã cảm
xúc vô cùng và vừa khóc, con vừa cắt lấy d...
Những đền thờ Bác
ở Tây Nam bộ
2«Nhiều tác giả
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN
ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ / Nhiều tác giả. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa - Văn nghệ
T.P. Hồ Chí Minh, 2014.
240tr. ; 21cm
1. Hồ Chí Minh,1890-1969 2. Đền -- Việt Nam -- Nam Việt Nam.
959.7042092 -- dc 23
N585
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«3
Những đền thờ Bác
ở Tây Nam bộ
N H I Ề U TÁ C G I Ả
Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ
T P. Hồ Ch í M in h - 2015
4«Nhiều tác giả
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hín giờ bốn mươi bảy phút ngày 02 tháng 9 năm
1969, trái tim của một con người vĩ đại của dân tộc
Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã ngừng đập.
Sáu giờ sáng ngày 04 tháng 9 năm 1969, tin Bác mất
được chính thức thông báo trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương đã tổ chức lễ tang, lễ truy
điệu Người, “biến đau thương thành hành động cách mạng,
dũng cảm tiến lên, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch”…
Ở miền Nam, với lòng thành kính và tiếc thương vô hạn Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Nam bộ, bằng
nhiều hình thức, đã lập bàn thờ, tổ chức lễ tang, lễ truy điệu
Bác, đồng thời xây dựng đền thờ Bác, ngay trong lòng địch, bất
chấp sự ngăn cản, phá hoại của kẻ thù.
Đã mấy mươi năm trôi qua, những đền thờ, phủ thờ
Bác Hồ trên cả nước, đặc biệt là khu vực Tây Nam bộ, vẫn
vững vàng, uy nghiêm tỏa ngát hương thơm và đón nhận đông
đảo người dân đến dâng hương, tham quan. Mỗi đền thờ Bác,
không chỉ là câu chuyện kể về tấm lòng thành kính của người
dân Nam bộ đối với Bác, mà còn là chứng nhân lịch sử, ghi
6«Nhiều tác giả
đậm truyền thống đấu tranh kiên cường của Đảng bộ và nhân
dân địa phương trong cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của
dân tộc, trong đó, có nhiệm vụ thiêng liêng là gìn giữ, bảo vệ
Đền thờ Bác Hồ. Những đền thờ ấy, đến nay ngày ngày vẫn
nghi ngút hương thơm, bởi nơi đây đã trở thành biểu tượng
bất diệt, là “Công trình của trái tim”, là “Pháo đài của niềm
tin”, là nét sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo của người dân
Nam bộ ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ được thực hiện trên
cơ sở tập hợp một số bài viết, bài nghiên cứu về tình cảm của
Bác Hồ đối với miền Nam và về những đền thờ Bác ở khu vực
Tây Nam bộ, được Đảng và nhân dân lập nên, được bảo vệ và
gìn giữ liên tục suốt hơn 45 năm qua.
Qua ấn phẩm này, mong rằng mỗi chúng ta, khi tưởng
nhớ về Bác, càng vun bồi thêm trong tâm hồn mình tinh thần
dân tộc, lòng yêu đất nước và quyết tâm phấn đấu, học tập và
làm theo tấm gương đạo đức của Người.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – VĂN NGHỆ
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«7
PHẦN MỘT
Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha.
(Tố Hữu - “Bác ơi!”, 1969)
8«Nhiều tác giả
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«9
CÁI NẮM TAY CUỐI CÙNG CỦA BÁC1
NGUYỄN VĂN LINH
1. TẤM LÒNG CỦA BÁC VỚI MIỀN NAM
T
hết được.
ấm lòng của Bác với miền Nam thật mênh mông
và sâu xa như biển cả, như núi cao, không sao nói
Trước hết là Bác thương nhân dân miền Nam. Tôi nói
“thương” theo nghĩa của đồng bào Nam bộ. Ngay từ khi đi
tìm đường cứu nước, cũng chính là Bác đã xuất phát từ lòng
thương yêu nhân dân ta, trong đó có nhân dân miền Nam bị
muôn vàn đau khổ dưới ách nô lệ của đế quốc, phong kiến.
Sau này Bác càng thương nhân dân miền Nam “đi trước về
sau”, bằng một tấm lòng của một vị lãnh tụ Đảng, lãnh tụ
dân tộc, lãnh tụ Nhà nước cách mạng. Lòng thương ấy biểu
1. Trích lược ghi bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy
viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh,
nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam Đảng Cộng sản Việt Nam,
tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ”
ngày 26-9-1985 tại TP. HCM. Tựa do Nhà xuất bản đặt
10«Nhiều tác giả
thị qua những lời nói, qua những hành động hằng ngày.
Nhất là qua ý kiến rất sáng suốt mà trong từng thời kỳ cách
mạng Bác đã đóng góp với Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, với Chính phủ và Tổng Chỉ huy quân đội,
cũng như các đoàn thể quần chúng và Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam để chỉ cho nhân dân miền Nam
con đường hành động đúng đắn chống lại quân thù và cùng
với toàn dân, toàn quân đấu tranh để giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, thoát ách ngựa trâu của bọn xâm lược
nước ngoài và tay sai.
Đi đôi với lòng thương đó là sự tin tưởng, tin tưởng
mãnh liệt của Bác đối với nhân dân Việt Nam, đối với nhân
dân miền Nam, đặc biệt là từ những phát súng kháng địch nổ
đầu tiên ngày 23-9-1945, mở đầu cho Nam Bộ kháng chiến
và sau đó là toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bác càng tin tưởng và càng thương yêu nhân dân miền
Nam hơn nữa là từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève); trong
khi miền Bắc ta đã được giải phóng, được tự do độc lập, bắt
tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhân dân miền Nam
vẫn còn bị quằn quại khổ đau dưới bàn tay bóc lột và tàn sát
đẫm máu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm rồi
đến bọn Thiệu, Kỳ... Trong hoàn cảnh như vậy, ngay cả trong
những thời kỳ khó khăn đen tối nhất, nhân dân miền Nam,
từ thành thị đến nông thôn, vùng rừng núi, vẫn một lòng
một dạ tin Đảng, tin Bác, ra sức đoàn kết, đấu tranh để giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa một bên
là nhân dân miền Nam ta chỉ có hai bàn tay trắng với tên
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«11
Mít tinh mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh
ở Sóc Xoài, Bến Tre năm 1946
đế quốc đầu sỏ, hùng mạnh nhất về quân sự, giàu có nhất
về kinh tế, khó khăn thật vô vàn. Địch đã huy động nửa
triệu quân Mỹ cộng với một triệu quân ngụy, ngoài ra còn
có thêm quân chư hầu, dùng đủ các loại vũ khí hiện đại (chỉ
trừ vũ khí hạt nhân); chúng đã dùng lực lượng đó để tàn
sát nhân dân miền Nam, trước hết là tàn sát những người
yêu nước. Trong khi đó ở miền Nam, một số lực lượng vũ
trang nhân dân xây dựng được sau chín năm kháng chiến
chống thực dân Pháp đã tập kết hết ra Bắc. Cách mạng
miền Nam có lúc tưởng như bị chìm mất dưới gót sắt của
quân thù. Nhưng, vốn đã hiểu rõ nhân dân miền Nam, Bác
vẫn tin chắc rằng đồng bào miền Nam với tính bất khuất,
chiến đấu cách mạng và tính năng động sáng tạo vốn có, sẽ
vùng lên cùng với cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
12«Nhiều tác giả
Bây giờ ta thấy rõ ràng quả đúng như vậy. Trong phong
trào đồng khởi chỉ với bập dừa làm súng giả, với trống mõ,
bà con đã tay không nổi dậy tước vũ khí của dân vệ, giải tán
bọn tề ngụy... từ đó tiến lên bằng cuộc đấu tranh “hai chân,
ba mũi” liên tiếp giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Lúc đó Trung ương Đảng có Nghị quyết 15, nhưng phải có
tinh thần và sức chiến đấu mãnh liệt như thế của đồng bào
miền Nam, Nghị quyết 15 mới được thực hiện thắng lợi. Để
có được tinh thần và sức mạnh đó, những lời động viên cổ
vũ của Bác Hồ đã có tác dụng rất đặc biệt. Đó là chất men
làm cho phong trào cách mạng ở miền Nam luôn sôi sục.
Yếu hơn địch mà luôn ở thế tiến công địch, làm cho chúng
thất bại liên tiếp.
Chúng ta còn nhớ mỗi lần đón Giao thừa, bà con ở
miền Nam đều hết sức chú ý lắng nghe lời chúc đầu xuân
của Bác. Tôi biết, ở ngay giữa Sài Gòn lúc ấy, có những xóm
lao động, khoảng vài ba chục gia đình lân cận, hiểu nhau,
liên kết với nhau tổ chức canh gác cẩn thận để mở máy thu
thanh nghe cho được lời chúc Tết của Bác. Đặc biệt là năm
1969 (sau cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968 - Tết Mậu
Thân), Bác chúc:
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«13
Cho đến bây giờ ta nghe lại vẫn còn thấy xúc động. Lúc
đó cách mạng còn đang rất khó khăn, nhân dân còn đang phải
chịu dưới gót sắt của giặc Mỹ và tay sai, ở thành phố nhung
nhúc quân địch, chính những lời cổ vũ của Bác đã giúp cho
đồng bào thấy rõ và tin tưởng ở sức mạnh tất thắng của nhân
dân. Đó là những lời biểu thị sự tin tưởng vào nhân dân, vào
chiến sĩ và cán bộ miền Nam, và cũng là những lời tiên đoán
đầy lạc quan, đầy tin tưởng. Bác đã thấy trước ngày thắng lợi,
ngày thống nhất, và Bác đã nói trước điều đó để động viên
đồng bào cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam. Những
lời đó không phải là không có căn cứ mà chính là xuất phát
từ lòng tin tưởng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ và cán
bộ miền Nam. Lòng tin tưởng đó đã biến thành hiện thực.
Hay như một ví dụ khác. Trong Di chúc, Bác đã viết:
“Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng
hơn mười ngày nay”. Rõ ràng không phải Bác không thấy
bao nhiêu triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ tàn
phá đất nước ta, bao nhiêu mánh khóe thâm độc về chính
trị, văn hóa chia rẽ nhân dân miền Nam, đầu độc thanh niên
miền Nam... 10 năm qua, ta còn rất nhiều khó khăn như vậy,
chúng ta vẫn xây dựng được khá nhiều. Cơ sở vật chất chưa
bao nhiêu, nhưng về xây dựng con người, ta đã làm được
khá nhiều việc, ở thành phố cũng như ở các tỉnh.
Chúng ta thấy rõ rằng Bác tin tưởng vào đồng bào và
chiến sĩ miền Nam nên Bác mới dặn dò như thế. Lời dặn dò
đó không chỉ là lời động viên cổ vũ chung chung mà chính là
nêu khẩu hiệu hành động cho nhân dân miền Nam, dựa trên
cơ sở lòng tin của Bác đối với đồng bào miền Nam, cũng
như nhân dân cả nước.
14«Nhiều tác giả
Tình thương và lòng tin của Bác thật là một nguồn cổ
vũ vô giá và hết sức lớn lao, nhờ đó nhân dân miền Nam đã
vượt qua mọi hy sinh gian khổ để cùng đồng bào cả nước
thắng hết giặc Pháp đến giặc Mỹ và tay sai. Làm cách mạng
lý trí thôi chưa đủ, mà phải có tình cảm. Tình cảm cách
mạng là một nhân tố rất cần thiết, rất quyết định. Bác Hồ đã
dành cho nhân dân miền Nam (cũng như cả nước ta) vừa
lý trí cách mạng (đường lối đúng đắn), vừa tình cảm cách
mạng tạo ra từ tình thương và lòng tin vô hạn của Bác.
Theo tôi, đó là một trong những nhân tố quyết định
cho thắng lợi của cách mạng, giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. TẤM LÒNG CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VỚI BÁC HỒ
Như lúc nãy tôi đã nói, tấm lòng của nhân dân miền
Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Mong rằng các
đồng chí ở các địa phương, các nhà khoa học nên sưu tầm có
kế hoạch và công phu hơn nữa những suy nghĩ và tình cảm,
những hành động và lời nói chân tình của đồng bào đủ các
vùng, các tầng lớp, các lứa tuổi, các dân tộc đối với Bác, để
thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác,
để thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác
và từ lòng kính yêu biến thành hành động cách mạng. Có rất
nhiều hành động của quần chúng mà ta chưa biết, có khi chỉ
là hành động rất nhỏ nhưng có ý nghĩa rất lớn.
Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt
được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội,
nhưng cuối cùng vì hai em ở tuổi vị thành niên, nó phải thả.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«15
Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu rất xảo quyệt. Trước
cửa xà-lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo:
“Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình
đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.
Với một việc nhỏ như vậy, ta thấy rõ tình cảm, sự kính
trọng của nhân dân miền Nam đối với Bác. Chính tình cảm
và sự tôn kính đó đã biến thành hành động cách mạng,
để biến yếu thành mạnh, để chiến thắng quân thù mạnh
hơn ta gấp nhiều lần, cả về tiềm lực quân sự và kinh tế.
Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ - ngụy
dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh
vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất
khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956,
hàng triệu quần chúng họp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu
tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền
lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ,
thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn,
đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và
cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó
cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh
nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của
Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành
công, đại thành công!
Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa
các vùng địch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi
thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác.
Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh
(Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải).
16«Nhiều tác giả
Chị em phụ nữ phường Tân Định, Sài Gòn
tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhiều nhà trí thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã
viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở
Sài Gòn v.v...
Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng
bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho có nơi đến trước khi đồng khởi có
chi bộ bị chúng bắt giết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới
ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được
bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình
hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương,
lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gởi bức thư đó ra
cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu
không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến
chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó. Sau đó,
Xử ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«17
kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam bộ xây dựng đề
cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15
của Trung ương. Như vậy, rõ ràng Nghị quyết 15 rất phù hợp
với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền
Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có
nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị
quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15,
Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.
Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính
trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính
trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung
ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy
của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên
mọi thắng lợi của chúng ta cho đến cả ngày nay.
Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn
18«Nhiều tác giả
Mười năm qua, ta đã vượt qua biết bao khó khăn, trở
ngại, trong cuộc đấu tranh để cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đã đạt được một số kết quả đáng mừng. Và gần đây,
cùng với cả nước, ra sức thực hiện các nghị quyết 6, 7, 8 cùng
Trung ương Đảng, chúng ta cảm thấy như luôn luôn có Bác
dẫn đường, chỉ lối, đúng như trong khẩu hiệu “Bác Hồ sống
mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Đây không phải chỉ là khẩu hiệu suông, mà là khẩu
hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Mọi người đem
hết nhiệt tình, phát huy hết sức năng động, sáng tạo, thực
hiện các chỉ thị nghị quyết của Trung ương Đảng, theo đúng
lời Di chúc của Bác. Đó là cách chứng thực bằng hành động
của mình rằng Bác Hồ vẫn đang sống mãi trong sự nghiệp
của chúng ta, cả trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
...
3. VÀI HỒI ỨC VỀ BÁC
Hồ...
Bây giờ tôi xin nói qua về một vài hồi ức của tôi về Bác
Năm 1963, ba năm sau đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính
trị Trung ương Đảng triệu tập ra Hà Nội báo cáo tình hình.
Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác
kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp,
tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam.
Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo
nâu, đi chân đất, Bác nói:
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«19
- A, chú Cúc đây phải không. Chú ở miền Nam ra,
trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân
miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung
ương cục đóng ở đâu?
Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:
- Thưa Bác, đóng ở Tây Ninh ạ.
Bác liền hỏi:
- Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến
chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và ban
lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải
tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người
được bao nhiêu?
- Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.
- Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú
hay chiến sĩ?
- Dạ, đó là anh em chiến sĩ thanh niên, chứ chúng tôi
không ăn hết được.
- Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?
- Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau đồng
khởi, bà con ở miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh
chính trị, theo đường lối “hai chân ba mũi”, vừa chống địch
càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà
con đã có đủ gạo ăn và nuôi kháng chiến. Ta cũng đã phá
được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên
đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu cho cả đồng bào và
chiến sĩ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.
20«Nhiều tác giả
- Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng
liệu có được lâu không?
- Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã
làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng
rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.
Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm
1975, đồng bào và chiến sĩ miền Đông vẫn không bị đói. Hồi
năm 1952, ở miền Đông Nam bộ ta chỉ có hai trung đoàn,
mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói,
phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng
Tháp) để có gạo ăn. Số ở lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm
lít gạo.
Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với
việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ và cán bộ. Từ
câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào và tình hình chung, rồi
Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn,
chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.
Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này
Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng với đồng chí Trần Độ.
Đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác, hôm nay cũng có mặt ở
đây) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được
Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả
tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.
Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với
Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm
và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi
người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần
Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«21
Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để
các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết
rằng nếu đồng bào và chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ
lo lắng biết bao nhiêu.
Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc
này Bác đã mệt nhiều, khi tôi được vào thăm thì Bác đã
không còn ngồi dậy để tiếp được nữa. Tôi ngồi trên chiếc
ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn tươi cười hỏi thăm tình
hình mọi mặt ở miền Nam như khi Bác vẫn còn đang khỏe.
Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có
treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình
chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho
biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu
cán bộ Bổ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến
sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!
Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các
đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không
ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam
ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí
trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã
không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác
thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết.
Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải
đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng,
gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền
Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.
Bác thật đúng là vị Cha già dân tộc.
22«Nhiều tác giả
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước
quây quần quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh trước phút lâm chung
Bác Hồ là người đã cầm đuốc soi đường cho Đảng ta,
nhân dân ta từ những khi còn trứng nước dưới thời thực dân
Pháp, qua Cách mạng Tháng Tám, rồi qua hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, qua bốn mươi năm từng bước
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tình cảm của Bác, tấm lòng của
Bác chính là nhân tố gây thành chất men để động viên toàn
Đảng, toán quân, toàn dân ta từ Bắc chí Nam vượt mọi khó
khăn, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để có được
như ngày nay.
Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«23
Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát - Đoàn Đại biểu Chính phủ cách mạng Lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt vòng hoa tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong vùng giải phóng
Phút tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong địa đạo Củ Chi, năm 1969
24«Nhiều tác giả
MIỀN NAM LUÔN TRONG
TRÁI TIM TÔI1
Giáo sư MẠC ĐƯỜNG
Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
B
ác Hồ của chúng ta là một lãnh tụ vĩ đại nhất của
thế kỷ XX, Người sáng lập ra Nhà nước công nông
đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, một Nhà nước do Bác Hồ
lãnh đạo đã đoàn kết được toàn dân đánh thắng phát xít
Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất dân tộc và
Tổ quốc toàn vẹn, một Nhà nước đấu tranh cho độc lập dân
tộc, cho thế giới hòa bình.
Bốn mươi năm của thế kỷ XX là bốn mươi năm rạng
rỡ của dân tộc Việt Nam (1945 – 1985), bốn mươi năm rạng
rỡ và sáng chói của bản sắc Việt Nam trước nhân loại với tên
gọi một con người cộng sản Việt Nam chân chính, Hồ Chí
Minh – vị lãnh tụ anh minh, người Cha, người thầy vĩ đại và
1. Trích “Bản sắc Việt Nam trong con người Việt Nam vĩ đại nhất”, của Giáo
sư Mạc Đường trong cuốn Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ,
NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 1987. Tựa do Nxb đặt.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«25
Bác Hồ kính yêu đối với tất cả trái tim và tâm hồn Việt Nam
yêu nước.
Bốn mươi năm qua là bốn mươi năm cực kỳ gian khổ,
bốn mươi năm trộn lẫn máu và lửa, nước mắt và niềm đau
thương vì lẽ phải sinh tồn và tình yêu nồng nàn của Tổ quốc
và dân tộc. Bản sắc Việt Nam thực sự đã tỏa ra một nguồn
sáng từ Bác Hồ của chúng ta cho cả một thế hệ con người
Việt Nam hôm bay và mai sau. Cái bản sắc Việt Nam ấy đã
được một người Xôviết lão thành sớm cảm nhận một cách
rất độc đáo. Ông ta viết “... Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một
thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một
nền văn hóa của tương lai” 1. Thật vậy, Bác Hồ của chúng
ta là một nhà văn hóa uyên bác. Nhà văn Cộng hòa Dân
chủ Đức J.Sternơ viết: Hồ Chí Minh là một bậc thâm nho,
không những giỏi văn học cổ điển Việt Nam và Trung Quốc
mà còn nói giỏi tiếng Nga và một số tiếng châu Âu, châu Á.
Người rất am hiểu văn học Pháp và trong thời thanh niên đã
từng đọc với tất cả niềm say mê tác phẩm của Victor Hugo,
Dô I.a, Anatol Franxơ...2. Không chỉ hiểu văn học, Bác còn
hiểu rõ thời sự chính trị và đời sống của các dân tộc. Nhà
báo Úc U.Bóc sét viết: “Người biết sử dụng rất nhiều thứ
tiếng Âu Á, đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước
của những người khách đến thăm”3. Thế nhưng, Bác Hồ của
1. Ôxip Mandextan. “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản”. Trong sách
“Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội 1985, tr.296.
2. G.Ster nơ. Bác Hồ như chúng ta đã biết, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”
tr.341.
3. U. Bócsét. Lịch sử sẽ dành cho người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại,
như trên, tr.342.
26«Nhiều tác giả
chúng ta lại là một con người rất mực Việt Nam “xa nước
ba mươi năm, một câu Kiều Người vẫn nhớ”1, Bác vừa đi
đường vừa đọc thuộc lòng Chinh phụ ngâm2. Bác còn nhớ
rõ trò chơi vật cù xứ Nghệ và nhớ cả những câu đố oái oăm
của thầy đồ nho Nghệ Tĩnh. Dù bôn ba nhiều năm ở nước
ngoài và sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn nhắc
câu “Trai Cát Ngạn, gái Đồ Lương”, hoặc chỉnh lại từ “nước”
thành “nác” theo đúng một câu ca phường vải trong dân
gian, Bác còn nói “Ru tam tam théc cho muồi” tức “ru em
em ngủ cho muồi” để lời hát cho sát đúng với thổ ngữ địa
phương3, mà ngày nay không phải bất cứ ai là người xứ Nghệ
đều có thể nhớ được cách nói đó. Cũng không ai có thể đoán
được chính Bác đã thổi ngọt một làn điệu dân ca bằng sáo
trúc trước mặt nghệ sĩ thổi sáo nổi tiếng Đinh Thìn4 và quan
khách. Đời sống riêng của Bác là một sự hội tụ của phong
cách Việt Nam, một sự kết hợp của những vẻ đẹp dân giã
trong các miền của đất nước. Một ngôi nhà sàn Việt Bắc
khiêm nhường và thanh tú, một ao cá thường gặp ở làng quê
Bắc bộ, một hàng rào dâm bụt thân thương của miền Trung,
một bóng dừa xanh, một gốc vú sữa cành lá sum sê đượm
tình Nam bộ. Bác dùng những vật dụng giản dị mà người
Việt Nam nào cũng biết. Một bộ đồ bà ba nâu như một vị lão
nông kính yêu, một chiếc quạt nan như trong thơ và cổ tích,
một đôi dép lốp cao su theo Bác đi đến mọi nơi. Bác thích
1. Chế Lan Viên. Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, xem “Muôn
vàn tình thân yêu” tr.78.
2. Phạm Văn Khoa. Những lời Bác dạy, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ” tr.68.
3. Minh Huệ. Bác dạy chúng tôi cất cao tiếng hát, như trên, tr.269.
4. Đinh Thìn. Một làn điệu dân ca qua tiếng sáo Bác Hồ, như trên, tr.228.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«27
món cá kho, canh chua và cá dòn xứ Nghệ. Bác còn thích
ăn những con cá Bác tự nuôi, những ngọn rau Bác tự trồng
và còn phân phát những thứ đó cho những đồng chí sống
gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng.
Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối, qua ruộng
lúa như một cụ già nông thôn, Bác còn bế em nhỏ bên nách
hoặc ngồi xổm đút thìa cơm cho trẻ như phong cách của mọi
người bình thường ta thường gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu
sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng lúng túng. Bản sắc Việt
Nam ở con người của Bác thật là đậm đà dân giã, thanh tao,
tinh tế, cao đẹp và trong sáng như muôn ngàn bức tranh sơn
thủy dân gian gộp lại. Bản sắc Việt Nam ở Bác Hồ còn tỏa
ra từ nguyên tắc sống “nặng nghĩa, trọn tình”. Phải chăng đó
là “lẽ phải và tình thương” của cách mạng mà gần đây đồng
chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thường nhắc đến? Hay đó là điều
mà Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã viết:
“Hồ Chủ tịch đối xử với người, với việc luôn luôn có lý, có
tình”1. Đối với kẻ thù của độc lập tự do, Bác nói “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”. Bác còn nói “Giôn xơn và bè lũ phải
biết rằng... Chiến tranh có thể phá hủy một số thành phố,
xí nghiệp có thể bị tàn phá song nhân dân Việt Nam quyết
không sợ!”2. đối với Cách mạng Tháng Mười Nga, với Lênin
và Liên Xô, Bác thường dạy “uống nước phải nhớ nguồn”.
Bản sắc Việt Nam trong con người của Bác còn thể
hiện ở lòng yêu mến sâu xa đối với miền Nam của Tổ quốc,
1. Phạm Văn Đồng. Tổ quốc, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ,
Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.314.
2. Hồ Chí Minh. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17 tháng
7 năm 1966.
28«Nhiều tác giả
một nửa Việt Nam còn đang đau thương sống dưới ách
thống trị của quân thù. Là một người yêu nước vĩ đại, một
người Việt Nam vĩ đại nhất, Bác không sao quên được mái
trường Quốc học Huế, làm sao quên được dòng sông Côn từ
miền đất khởi nghĩa của Tây Sơn, làm sao Bác có thể quên
được trường Dục Thanh ở Thuận Hải, quên đồng ruộng Cao
Lãnh – nơi cụ thân sinh yên nghỉ nghìn thu, quên Bến Nhà
Rồng – nơi Bác rời quê hương lên đường ra đi cứu nước. Với
tình cảm tha thiết và sâu thẳm đó, năm 1946 tại một cuộc
họp báo ở Paris, Bác đã thống thiết nói với mọi người rằng
“Nam bộ là máu của Việt Nam, là thịt của Việt Nam”1. Về sau
này, Bác còn nói “miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”.
Trong cuộc đời của Bác Hồ, Bác đã dành nhiều giọt
nước mắt nhất để khóc riêng cho miền Nam. Trong kháng
chiến chống Pháp, Bác đã khóc khi nghe kể những gương
chiến đấu anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Trong kháng
chiến chống Mỹ, Bác lại khóc nhiều hơn. Bác đã khóc khi
nghe câu hát “Miền Nam yêu quý ta ơi”2. Bác đã khóc nhiều
lần khi gặp các đại biểu từ miền Nam ra thăm thủ đô Hà Nội.
Bác ơi! Đời Bác muốn chẳng ai phải khóc
Nên Bác bao lần đã khóc miền Nam3.
Cho nên những năm cuối cùng của tuổi bảy mươi, tuy
sức khỏe đã suy giảm nhiều, nhưng nỗi nhớ miền Nam ở
Bác lại càng thôi thúc rạo rực hơn, ý chí muốn vào Nam
1. Phạm Duy Thông. Nhớ Bác Hồ, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.45.
2. Ái Liên, Nhớ Bác, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.187.
3. Hoàng Tố Nguyên. Con vẫn nghe tiếng Bác, Bác ơi, xem “Muôn vàn tình
thương yêu”, tr.95.
Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«29
thăm đồng bào càng mạnh hơn bao giờ hết. Hàng ngày, Bác
tập đi bộ và cố gắng thực hiện mọi sự chuẩn bị để mong sao
Bộ Chính trị đồng ý để Bác lên đường vượt núi trèo đèo vào
với miền Nam thương nhớ. Nhưng, Bác đã chưa đến được
với miền Nam, miền Nam chưa được nhìn thấy Bác thì Bác
đã ra đi và để lại cho non sông Việt Nam, cho đồng bào
Nam Bắc những lời di chúc thắm thiết tình người, sâu sắc
đại nghĩa và một lời nguyện ước sắt đá đối với miền Nam và
cả nước.
Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.
Có thể nói, trong suốt bốn mươi năm qua, lịch sử đã
đọng lại trong con người của Bác cũng như trong mỗi tâm
hồn Việt Nam một hình ảnh miền Nam anh hùng và đau
thương, và điều này đã chi phối mạnh mẽ đến mọi sinh
hoạt, suy nghĩ của xã hội và con người Việt Nam. Chúng
ta đã từng chiến đấu, sản xuất, học tập vì miền Nam ruột
thịt và lấy miền Nam để đọ sức với kẻ thù và cư xử với bạn
bè năm châu, bốn biển. Thơ ca văn học, hội họa, điêu khắc,
âm nhạc... và những sáng tạo trong ngoại giao, trên chiến
trường phần rất lớn cũng dành cho miền Nam yêu quý. Do
đó, đã hình thành trong mỗi con người Việt Nam những
tình cảm, suy nghĩ, cách ứng xử, quan niệm đạo đức, chuẩn
mực tư cách, những hành vi cụ thề, những sáng tạo vật chất
và tinh thần xuất phát từ lòng yêu quý miền Nam, tự nguyện
vọng chung của dân tộc về sự sum họp Nam Bắc một nhà.
Miền Nam đã trở thành một nhân tố rất quan trọng của bản
sắc Việt Nam trong hiện đại mà Bác Hồ là một hình ảnh tiêu
30«Nhiều tác giả
biểu nhất. Miền Nam đã yêu Bác Hồ với một tình yêu thật
kỳ diệu, thật mãnh liệt, bởi vì chính Bác là người thể hiện
cái chung nhất và cao quý nhất của Việt Nam, của con người
Việt Nam, hội tụ được phong cách khắp ba miền đất nước.
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nghệ sĩ Diệp Minh
Châu đã viết: “Hôm nay, trong cảnh vĩ đại của ngày độc lập
chưa từng có ở Nam bộ, sau khi nghe lời tuyên ngôn độc lập
của Cha, lời thống thiết hùng mạnh của Cha và lời ca Hồ Chí
Minh muôn năm của Đoàn thiếu nhi Nam bộ, con đã cảm
xúc vô cùng và vừa khóc, con vừa cắt lấy d...
 





