BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5453750017289_dd9b37f3dfaeffb8b1e9df9b3d189f0a.jpg Z5453749997281_7cc00afb58afa0a0b0b83b299469b624.jpg Z5453749986255_e8c1f09478ff23412594a42b9d5f3e9f.jpg Z5453749369827_5044681c84b90d7a10ae95aea51d2795.jpg

    Thư viện biết đi | Tiếng Việt 2, tập 2

    19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử

    NhungDenThoBacOTayNamBo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 13h:32' 04-03-2024
    Dung lượng: 18.9 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«1

    Những đền thờ Bác
    ở Tây Nam bộ

    2«Nhiều tác giả

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN
    ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ / Nhiều tác giả. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa - Văn nghệ
    T.P. Hồ Chí Minh, 2014.
    240tr. ; 21cm
    1. Hồ Chí Minh,1890-1969 2. Đền -- Việt Nam -- Nam Việt Nam.
    959.7042092 -- dc 23
    N585

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«3

    Những đền thờ Bác
    ở Tây Nam bộ
    N H I Ề U TÁ C G I Ả

    Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ
    T P. Hồ Ch í M in h - 2015

    4«Nhiều tác giả

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«5

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    C

    hín giờ bốn mươi bảy phút ngày 02 tháng 9 năm
    1969, trái tim của một con người vĩ đại của dân tộc
    Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã ngừng đập.
    Sáu giờ sáng ngày 04 tháng 9 năm 1969, tin Bác mất
    được chính thức thông báo trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
    Hưởng ứng Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
    nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương đã tổ chức lễ tang, lễ truy
    điệu Người, “biến đau thương thành hành động cách mạng,
    dũng cảm tiến lên, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch”…
    Ở miền Nam, với lòng thành kính và tiếc thương vô hạn Chủ
    tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Nam bộ, bằng
    nhiều hình thức, đã lập bàn thờ, tổ chức lễ tang, lễ truy điệu
    Bác, đồng thời xây dựng đền thờ Bác, ngay trong lòng địch, bất
    chấp sự ngăn cản, phá hoại của kẻ thù.
    Đã mấy mươi năm trôi qua, những đền thờ, phủ thờ
    Bác Hồ trên cả nước, đặc biệt là khu vực Tây Nam bộ, vẫn
    vững vàng, uy nghiêm tỏa ngát hương thơm và đón nhận đông
    đảo người dân đến dâng hương, tham quan. Mỗi đền thờ Bác,
    không chỉ là câu chuyện kể về tấm lòng thành kính của người
    dân Nam bộ đối với Bác, mà còn là chứng nhân lịch sử, ghi

    6«Nhiều tác giả
    đậm truyền thống đấu tranh kiên cường của Đảng bộ và nhân
    dân địa phương trong cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại của
    dân tộc, trong đó, có nhiệm vụ thiêng liêng là gìn giữ, bảo vệ
    Đền thờ Bác Hồ. Những đền thờ ấy, đến nay ngày ngày vẫn
    nghi ngút hương thơm, bởi nơi đây đã trở thành biểu tượng
    bất diệt, là “Công trình của trái tim”, là “Pháo đài của niềm
    tin”, là nét sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo của người dân
    Nam bộ ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long.
    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ được thực hiện trên
    cơ sở tập hợp một số bài viết, bài nghiên cứu về tình cảm của
    Bác Hồ đối với miền Nam và về những đền thờ Bác ở khu vực
    Tây Nam bộ, được Đảng và nhân dân lập nên, được bảo vệ và
    gìn giữ liên tục suốt hơn 45 năm qua.
    Qua ấn phẩm này, mong rằng mỗi chúng ta, khi tưởng
    nhớ về Bác, càng vun bồi thêm trong tâm hồn mình tinh thần
    dân tộc, lòng yêu đất nước và quyết tâm phấn đấu, học tập và
    làm theo tấm gương đạo đức của Người.
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – VĂN NGHỆ

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«7

    PHẦN MỘT

    Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
    Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha.
    (Tố Hữu - “Bác ơi!”, 1969)

    8«Nhiều tác giả

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«9

    CÁI NẮM TAY CUỐI CÙNG CỦA BÁC1
    NGUYỄN VĂN LINH

    1. TẤM LÒNG CỦA BÁC VỚI MIỀN NAM

    T

    hết được.

    ấm lòng của Bác với miền Nam thật mênh mông
    và sâu xa như biển cả, như núi cao, không sao nói

    Trước hết là Bác thương nhân dân miền Nam. Tôi nói
    “thương” theo nghĩa của đồng bào Nam bộ. Ngay từ khi đi
    tìm đường cứu nước, cũng chính là Bác đã xuất phát từ lòng
    thương yêu nhân dân ta, trong đó có nhân dân miền Nam bị
    muôn vàn đau khổ dưới ách nô lệ của đế quốc, phong kiến.
    Sau này Bác càng thương nhân dân miền Nam “đi trước về
    sau”, bằng một tấm lòng của một vị lãnh tụ Đảng, lãnh tụ
    dân tộc, lãnh tụ Nhà nước cách mạng. Lòng thương ấy biểu
    1. Trích lược ghi bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy
    viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh,
    nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam Đảng Cộng sản Việt Nam,
    tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ”
    ngày 26-9-1985 tại TP. HCM. Tựa do Nhà xuất bản đặt

    10«Nhiều tác giả
    thị qua những lời nói, qua những hành động hằng ngày.
    Nhất là qua ý kiến rất sáng suốt mà trong từng thời kỳ cách
    mạng Bác đã đóng góp với Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành
    Trung ương Đảng, với Chính phủ và Tổng Chỉ huy quân đội,
    cũng như các đoàn thể quần chúng và Mặt trận Dân tộc Giải
    phóng miền Nam Việt Nam để chỉ cho nhân dân miền Nam
    con đường hành động đúng đắn chống lại quân thù và cùng
    với toàn dân, toàn quân đấu tranh để giải phóng miền Nam,
    thống nhất Tổ quốc, thoát ách ngựa trâu của bọn xâm lược
    nước ngoài và tay sai.
    Đi đôi với lòng thương đó là sự tin tưởng, tin tưởng
    mãnh liệt của Bác đối với nhân dân Việt Nam, đối với nhân
    dân miền Nam, đặc biệt là từ những phát súng kháng địch nổ
    đầu tiên ngày 23-9-1945, mở đầu cho Nam Bộ kháng chiến
    và sau đó là toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp.
    Bác càng tin tưởng và càng thương yêu nhân dân miền
    Nam hơn nữa là từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève); trong
    khi miền Bắc ta đã được giải phóng, được tự do độc lập, bắt
    tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhân dân miền Nam
    vẫn còn bị quằn quại khổ đau dưới bàn tay bóc lột và tàn sát
    đẫm máu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm rồi
    đến bọn Thiệu, Kỳ... Trong hoàn cảnh như vậy, ngay cả trong
    những thời kỳ khó khăn đen tối nhất, nhân dân miền Nam,
    từ thành thị đến nông thôn, vùng rừng núi, vẫn một lòng
    một dạ tin Đảng, tin Bác, ra sức đoàn kết, đấu tranh để giải
    phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
    Trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa một bên
    là nhân dân miền Nam ta chỉ có hai bàn tay trắng với tên

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«11

    Mít tinh mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh
    ở Sóc Xoài, Bến Tre năm 1946

    đế quốc đầu sỏ, hùng mạnh nhất về quân sự, giàu có nhất
    về kinh tế, khó khăn thật vô vàn. Địch đã huy động nửa
    triệu quân Mỹ cộng với một triệu quân ngụy, ngoài ra còn
    có thêm quân chư hầu, dùng đủ các loại vũ khí hiện đại (chỉ
    trừ vũ khí hạt nhân); chúng đã dùng lực lượng đó để tàn
    sát nhân dân miền Nam, trước hết là tàn sát những người
    yêu nước. Trong khi đó ở miền Nam, một số lực lượng vũ
    trang nhân dân xây dựng được sau chín năm kháng chiến
    chống thực dân Pháp đã tập kết hết ra Bắc. Cách mạng
    miền Nam có lúc tưởng như bị chìm mất dưới gót sắt của
    quân thù. Nhưng, vốn đã hiểu rõ nhân dân miền Nam, Bác
    vẫn tin chắc rằng đồng bào miền Nam với tính bất khuất,
    chiến đấu cách mạng và tính năng động sáng tạo vốn có, sẽ
    vùng lên cùng với cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

    12«Nhiều tác giả
    Bây giờ ta thấy rõ ràng quả đúng như vậy. Trong phong
    trào đồng khởi chỉ với bập dừa làm súng giả, với trống mõ,
    bà con đã tay không nổi dậy tước vũ khí của dân vệ, giải tán
    bọn tề ngụy... từ đó tiến lên bằng cuộc đấu tranh “hai chân,
    ba mũi” liên tiếp giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
    Lúc đó Trung ương Đảng có Nghị quyết 15, nhưng phải có
    tinh thần và sức chiến đấu mãnh liệt như thế của đồng bào
    miền Nam, Nghị quyết 15 mới được thực hiện thắng lợi. Để
    có được tinh thần và sức mạnh đó, những lời động viên cổ
    vũ của Bác Hồ đã có tác dụng rất đặc biệt. Đó là chất men
    làm cho phong trào cách mạng ở miền Nam luôn sôi sục.
    Yếu hơn địch mà luôn ở thế tiến công địch, làm cho chúng
    thất bại liên tiếp.
    Chúng ta còn nhớ mỗi lần đón Giao thừa, bà con ở
    miền Nam đều hết sức chú ý lắng nghe lời chúc đầu xuân
    của Bác. Tôi biết, ở ngay giữa Sài Gòn lúc ấy, có những xóm
    lao động, khoảng vài ba chục gia đình lân cận, hiểu nhau,
    liên kết với nhau tổ chức canh gác cẩn thận để mở máy thu
    thanh nghe cho được lời chúc Tết của Bác. Đặc biệt là năm
    1969 (sau cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968 - Tết Mậu
    Thân), Bác chúc:
    Năm qua thắng lợi vẻ vang
    Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
    Vì độc lập, vì tự do
    Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
    Tiến lên, chiến sĩ, đồng bào!
    Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«13

    Cho đến bây giờ ta nghe lại vẫn còn thấy xúc động. Lúc
    đó cách mạng còn đang rất khó khăn, nhân dân còn đang phải
    chịu dưới gót sắt của giặc Mỹ và tay sai, ở thành phố nhung
    nhúc quân địch, chính những lời cổ vũ của Bác đã giúp cho
    đồng bào thấy rõ và tin tưởng ở sức mạnh tất thắng của nhân
    dân. Đó là những lời biểu thị sự tin tưởng vào nhân dân, vào
    chiến sĩ và cán bộ miền Nam, và cũng là những lời tiên đoán
    đầy lạc quan, đầy tin tưởng. Bác đã thấy trước ngày thắng lợi,
    ngày thống nhất, và Bác đã nói trước điều đó để động viên
    đồng bào cả nước, đặc biệt là đồng bào miền Nam. Những
    lời đó không phải là không có căn cứ mà chính là xuất phát
    từ lòng tin tưởng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ và cán
    bộ miền Nam. Lòng tin tưởng đó đã biến thành hiện thực.
    Hay như một ví dụ khác. Trong Di chúc, Bác đã viết:
    “Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng
    hơn mười ngày nay”. Rõ ràng không phải Bác không thấy
    bao nhiêu triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ tàn
    phá đất nước ta, bao nhiêu mánh khóe thâm độc về chính
    trị, văn hóa chia rẽ nhân dân miền Nam, đầu độc thanh niên
    miền Nam... 10 năm qua, ta còn rất nhiều khó khăn như vậy,
    chúng ta vẫn xây dựng được khá nhiều. Cơ sở vật chất chưa
    bao nhiêu, nhưng về xây dựng con người, ta đã làm được
    khá nhiều việc, ở thành phố cũng như ở các tỉnh.
    Chúng ta thấy rõ rằng Bác tin tưởng vào đồng bào và
    chiến sĩ miền Nam nên Bác mới dặn dò như thế. Lời dặn dò
    đó không chỉ là lời động viên cổ vũ chung chung mà chính là
    nêu khẩu hiệu hành động cho nhân dân miền Nam, dựa trên
    cơ sở lòng tin của Bác đối với đồng bào miền Nam, cũng
    như nhân dân cả nước.

    14«Nhiều tác giả
    Tình thương và lòng tin của Bác thật là một nguồn cổ
    vũ vô giá và hết sức lớn lao, nhờ đó nhân dân miền Nam đã
    vượt qua mọi hy sinh gian khổ để cùng đồng bào cả nước
    thắng hết giặc Pháp đến giặc Mỹ và tay sai. Làm cách mạng
    lý trí thôi chưa đủ, mà phải có tình cảm. Tình cảm cách
    mạng là một nhân tố rất cần thiết, rất quyết định. Bác Hồ đã
    dành cho nhân dân miền Nam (cũng như cả nước ta) vừa
    lý trí cách mạng (đường lối đúng đắn), vừa tình cảm cách
    mạng tạo ra từ tình thương và lòng tin vô hạn của Bác.
    Theo tôi, đó là một trong những nhân tố quyết định
    cho thắng lợi của cách mạng, giải phóng miền Nam, thống
    nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    2. TẤM LÒNG CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VỚI BÁC HỒ
    Như lúc nãy tôi đã nói, tấm lòng của nhân dân miền
    Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Mong rằng các
    đồng chí ở các địa phương, các nhà khoa học nên sưu tầm có
    kế hoạch và công phu hơn nữa những suy nghĩ và tình cảm,
    những hành động và lời nói chân tình của đồng bào đủ các
    vùng, các tầng lớp, các lứa tuổi, các dân tộc đối với Bác, để
    thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác,
    để thấy được rõ hơn lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác
    và từ lòng kính yêu biến thành hành động cách mạng. Có rất
    nhiều hành động của quần chúng mà ta chưa biết, có khi chỉ
    là hành động rất nhỏ nhưng có ý nghĩa rất lớn.
    Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt
    được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội,
    nhưng cuối cùng vì hai em ở tuổi vị thành niên, nó phải thả.

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«15

    Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu rất xảo quyệt. Trước
    cửa xà-lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo:
    “Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình
    đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.
    Với một việc nhỏ như vậy, ta thấy rõ tình cảm, sự kính
    trọng của nhân dân miền Nam đối với Bác. Chính tình cảm
    và sự tôn kính đó đã biến thành hành động cách mạng,
    để biến yếu thành mạnh, để chiến thắng quân thù mạnh
    hơn ta gấp nhiều lần, cả về tiềm lực quân sự và kinh tế.
    Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ - ngụy
    dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh
    vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất
    khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956,
    hàng triệu quần chúng họp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu
    tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền
    lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ,
    thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn,
    đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và
    cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó
    cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh
    nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của
    Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành
    công, đại thành công!
    Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa
    các vùng địch tạm chiếm. Ở Viện Bảo tàng Cách mạng, tôi
    thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác.
    Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh
    (Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải).

    16«Nhiều tác giả

    Chị em phụ nữ phường Tân Định, Sài Gòn
    tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Nhiều nhà trí thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã
    viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở
    Sài Gòn v.v...
    Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng
    bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho có nơi đến trước khi đồng khởi có
    chi bộ bị chúng bắt giết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới
    ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được
    bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình
    hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương,
    lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gởi bức thư đó ra
    cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu
    không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến
    chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó. Sau đó,
    Xử ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«17

    kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam bộ xây dựng đề
    cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15
    của Trung ương. Như vậy, rõ ràng Nghị quyết 15 rất phù hợp
    với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền
    Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có
    nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị
    quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15,
    Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.
    Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính
    trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính
    trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung
    ương Đảng mà Bác là lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy
    của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên
    mọi thắng lợi của chúng ta cho đến cả ngày nay.

    Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
    trong nhà lao Chí Hòa - Sài Gòn

    18«Nhiều tác giả
    Mười năm qua, ta đã vượt qua biết bao khó khăn, trở
    ngại, trong cuộc đấu tranh để cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
    xã hội, đã đạt được một số kết quả đáng mừng. Và gần đây,
    cùng với cả nước, ra sức thực hiện các nghị quyết 6, 7, 8 cùng
    Trung ương Đảng, chúng ta cảm thấy như luôn luôn có Bác
    dẫn đường, chỉ lối, đúng như trong khẩu hiệu “Bác Hồ sống
    mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
    Đây không phải chỉ là khẩu hiệu suông, mà là khẩu
    hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Mọi người đem
    hết nhiệt tình, phát huy hết sức năng động, sáng tạo, thực
    hiện các chỉ thị nghị quyết của Trung ương Đảng, theo đúng
    lời Di chúc của Bác. Đó là cách chứng thực bằng hành động
    của mình rằng Bác Hồ vẫn đang sống mãi trong sự nghiệp
    của chúng ta, cả trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
    nhất đất nước và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    ...

    3. VÀI HỒI ỨC VỀ BÁC
    Hồ...

    Bây giờ tôi xin nói qua về một vài hồi ức của tôi về Bác

    Năm 1963, ba năm sau đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính
    trị Trung ương Đảng triệu tập ra Hà Nội báo cáo tình hình.
    Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác
    kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp,
    tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam.
    Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo
    nâu, đi chân đất, Bác nói:

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«19

    - A, chú Cúc đây phải không. Chú ở miền Nam ra,
    trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân
    miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung
    ương cục đóng ở đâu?
    Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:
    - Thưa Bác, đóng ở Tây Ninh ạ.
    Bác liền hỏi:
    - Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến
    chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và ban
    lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải
    tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người
    được bao nhiêu?
    - Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.
    - Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú
    hay chiến sĩ?
    - Dạ, đó là anh em chiến sĩ thanh niên, chứ chúng tôi
    không ăn hết được.
    - Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?
    - Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau đồng
    khởi, bà con ở miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh
    chính trị, theo đường lối “hai chân ba mũi”, vừa chống địch
    càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà
    con đã có đủ gạo ăn và nuôi kháng chiến. Ta cũng đã phá
    được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên
    đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu cho cả đồng bào và
    chiến sĩ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.

    20«Nhiều tác giả
    - Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng
    liệu có được lâu không?
    - Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã
    làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng
    rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.
    Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm
    1975, đồng bào và chiến sĩ miền Đông vẫn không bị đói. Hồi
    năm 1952, ở miền Đông Nam bộ ta chỉ có hai trung đoàn,
    mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói,
    phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng
    Tháp) để có gạo ăn. Số ở lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm
    lít gạo.
    Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với
    việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ và cán bộ. Từ
    câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào và tình hình chung, rồi
    Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn,
    chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.
    Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này
    Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng với đồng chí Trần Độ.
    Đồng chí Vũ Kỳ (thư ký của Bác, hôm nay cũng có mặt ở
    đây) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được
    Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả
    tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.
    Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với
    Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm
    và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi
    người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần
    Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«21

    Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để
    các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết
    rằng nếu đồng bào và chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ
    lo lắng biết bao nhiêu.
    Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc
    này Bác đã mệt nhiều, khi tôi được vào thăm thì Bác đã
    không còn ngồi dậy để tiếp được nữa. Tôi ngồi trên chiếc
    ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn tươi cười hỏi thăm tình
    hình mọi mặt ở miền Nam như khi Bác vẫn còn đang khỏe.
    Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có
    treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình
    chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho
    biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu
    cán bộ Bổ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến
    sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!
    Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các
    đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không
    ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam
    ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí
    trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã
    không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác
    thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết.
    Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải
    đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng,
    gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền
    Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.
    Bác thật đúng là vị Cha già dân tộc.

    22«Nhiều tác giả

    Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước
    quây quần quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh trước phút lâm chung

    Bác Hồ là người đã cầm đuốc soi đường cho Đảng ta,
    nhân dân ta từ những khi còn trứng nước dưới thời thực dân
    Pháp, qua Cách mạng Tháng Tám, rồi qua hai cuộc kháng
    chiến chống Pháp, chống Mỹ, qua bốn mươi năm từng bước
    xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tình cảm của Bác, tấm lòng của
    Bác chính là nhân tố gây thành chất men để động viên toàn
    Đảng, toán quân, toàn dân ta từ Bắc chí Nam vượt mọi khó
    khăn, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để có được
    như ngày nay.
    Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«23

    Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát - Đoàn Đại biểu Chính phủ cách mạng Lâm thời
    Cộng hòa miền Nam Việt Nam đặt vòng hoa tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh
    trong vùng giải phóng

    Phút tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong địa đạo Củ Chi, năm 1969

    24«Nhiều tác giả

    MIỀN NAM LUÔN TRONG
    TRÁI TIM TÔI1
    Giáo sư MẠC ĐƯỜNG
    Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

    B

    ác Hồ của chúng ta là một lãnh tụ vĩ đại nhất của
    thế kỷ XX, Người sáng lập ra Nhà nước công nông
    đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, một Nhà nước do Bác Hồ
    lãnh đạo đã đoàn kết được toàn dân đánh thắng phát xít
    Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất dân tộc và
    Tổ quốc toàn vẹn, một Nhà nước đấu tranh cho độc lập dân
    tộc, cho thế giới hòa bình.
    Bốn mươi năm của thế kỷ XX là bốn mươi năm rạng
    rỡ của dân tộc Việt Nam (1945 – 1985), bốn mươi năm rạng
    rỡ và sáng chói của bản sắc Việt Nam trước nhân loại với tên
    gọi một con người cộng sản Việt Nam chân chính, Hồ Chí
    Minh – vị lãnh tụ anh minh, người Cha, người thầy vĩ đại và
    1. Trích “Bản sắc Việt Nam trong con người Việt Nam vĩ đại nhất”, của Giáo
    sư Mạc Đường trong cuốn Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ,
    NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 1987. Tựa do Nxb đặt.

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«25

    Bác Hồ kính yêu đối với tất cả trái tim và tâm hồn Việt Nam
    yêu nước.
    Bốn mươi năm qua là bốn mươi năm cực kỳ gian khổ,
    bốn mươi năm trộn lẫn máu và lửa, nước mắt và niềm đau
    thương vì lẽ phải sinh tồn và tình yêu nồng nàn của Tổ quốc
    và dân tộc. Bản sắc Việt Nam thực sự đã tỏa ra một nguồn
    sáng từ Bác Hồ của chúng ta cho cả một thế hệ con người
    Việt Nam hôm bay và mai sau. Cái bản sắc Việt Nam ấy đã
    được một người Xôviết lão thành sớm cảm nhận một cách
    rất độc đáo. Ông ta viết “... Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một
    thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một
    nền văn hóa của tương lai” 1. Thật vậy, Bác Hồ của chúng
    ta là một nhà văn hóa uyên bác. Nhà văn Cộng hòa Dân
    chủ Đức J.Sternơ viết: Hồ Chí Minh là một bậc thâm nho,
    không những giỏi văn học cổ điển Việt Nam và Trung Quốc
    mà còn nói giỏi tiếng Nga và một số tiếng châu Âu, châu Á.
    Người rất am hiểu văn học Pháp và trong thời thanh niên đã
    từng đọc với tất cả niềm say mê tác phẩm của Victor Hugo,
    Dô I.a, Anatol Franxơ...2. Không chỉ hiểu văn học, Bác còn
    hiểu rõ thời sự chính trị và đời sống của các dân tộc. Nhà
    báo Úc U.Bóc sét viết: “Người biết sử dụng rất nhiều thứ
    tiếng Âu Á, đồng thời còn rất hiểu tình hình trong nước
    của những người khách đến thăm”3. Thế nhưng, Bác Hồ của
    1. Ôxip Mandextan. “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản”. Trong sách
    “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội 1985, tr.296.
    2. G.Ster nơ. Bác Hồ như chúng ta đã biết, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”
    tr.341.
    3. U. Bócsét. Lịch sử sẽ dành cho người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại,
    như trên, tr.342.

    26«Nhiều tác giả
    chúng ta lại là một con người rất mực Việt Nam “xa nước
    ba mươi năm, một câu Kiều Người vẫn nhớ”1, Bác vừa đi
    đường vừa đọc thuộc lòng Chinh phụ ngâm2. Bác còn nhớ
    rõ trò chơi vật cù xứ Nghệ và nhớ cả những câu đố oái oăm
    của thầy đồ nho Nghệ Tĩnh. Dù bôn ba nhiều năm ở nước
    ngoài và sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn nhắc
    câu “Trai Cát Ngạn, gái Đồ Lương”, hoặc chỉnh lại từ “nước”
    thành “nác” theo đúng một câu ca phường vải trong dân
    gian, Bác còn nói “Ru tam tam théc cho muồi” tức “ru em
    em ngủ cho muồi” để lời hát cho sát đúng với thổ ngữ địa
    phương3, mà ngày nay không phải bất cứ ai là người xứ Nghệ
    đều có thể nhớ được cách nói đó. Cũng không ai có thể đoán
    được chính Bác đã thổi ngọt một làn điệu dân ca bằng sáo
    trúc trước mặt nghệ sĩ thổi sáo nổi tiếng Đinh Thìn4 và quan
    khách. Đời sống riêng của Bác là một sự hội tụ của phong
    cách Việt Nam, một sự kết hợp của những vẻ đẹp dân giã
    trong các miền của đất nước. Một ngôi nhà sàn Việt Bắc
    khiêm nhường và thanh tú, một ao cá thường gặp ở làng quê
    Bắc bộ, một hàng rào dâm bụt thân thương của miền Trung,
    một bóng dừa xanh, một gốc vú sữa cành lá sum sê đượm
    tình Nam bộ. Bác dùng những vật dụng giản dị mà người
    Việt Nam nào cũng biết. Một bộ đồ bà ba nâu như một vị lão
    nông kính yêu, một chiếc quạt nan như trong thơ và cổ tích,
    một đôi dép lốp cao su theo Bác đi đến mọi nơi. Bác thích
    1. Chế Lan Viên. Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi, xem “Muôn
    vàn tình thân yêu” tr.78.
    2. Phạm Văn Khoa. Những lời Bác dạy, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ” tr.68.
    3. Minh Huệ. Bác dạy chúng tôi cất cao tiếng hát, như trên, tr.269.
    4. Đinh Thìn. Một làn điệu dân ca qua tiếng sáo Bác Hồ, như trên, tr.228.

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«27

    món cá kho, canh chua và cá dòn xứ Nghệ. Bác còn thích
    ăn những con cá Bác tự nuôi, những ngọn rau Bác tự trồng
    và còn phân phát những thứ đó cho những đồng chí sống
    gần Bác. Bác ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhà sàn ngắm trăng.
    Bác xắn gọn quần và rảo bước nhanh qua suối, qua ruộng
    lúa như một cụ già nông thôn, Bác còn bế em nhỏ bên nách
    hoặc ngồi xổm đút thìa cơm cho trẻ như phong cách của mọi
    người bình thường ta thường gặp. Bác còn nắm chắc tay gàu
    sòng tưới nước mà không ngỡ ngàng lúng túng. Bản sắc Việt
    Nam ở con người của Bác thật là đậm đà dân giã, thanh tao,
    tinh tế, cao đẹp và trong sáng như muôn ngàn bức tranh sơn
    thủy dân gian gộp lại. Bản sắc Việt Nam ở Bác Hồ còn tỏa
    ra từ nguyên tắc sống “nặng nghĩa, trọn tình”. Phải chăng đó
    là “lẽ phải và tình thương” của cách mạng mà gần đây đồng
    chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thường nhắc đến? Hay đó là điều
    mà Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã viết:
    “Hồ Chủ tịch đối xử với người, với việc luôn luôn có lý, có
    tình”1. Đối với kẻ thù của độc lập tự do, Bác nói “Không có gì
    quý hơn độc lập tự do”. Bác còn nói “Giôn xơn và bè lũ phải
    biết rằng... Chiến tranh có thể phá hủy một số thành phố,
    xí nghiệp có thể bị tàn phá song nhân dân Việt Nam quyết
    không sợ!”2. đối với Cách mạng Tháng Mười Nga, với Lênin
    và Liên Xô, Bác thường dạy “uống nước phải nhớ nguồn”.
    Bản sắc Việt Nam trong con người của Bác còn thể
    hiện ở lòng yêu mến sâu xa đối với miền Nam của Tổ quốc,
    1. Phạm Văn Đồng. Tổ quốc, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ,
    Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.314.
    2. Hồ Chí Minh. Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17 tháng
    7 năm 1966.

    28«Nhiều tác giả
    một nửa Việt Nam còn đang đau thương sống dưới ách
    thống trị của quân thù. Là một người yêu nước vĩ đại, một
    người Việt Nam vĩ đại nhất, Bác không sao quên được mái
    trường Quốc học Huế, làm sao quên được dòng sông Côn từ
    miền đất khởi nghĩa của Tây Sơn, làm sao Bác có thể quên
    được trường Dục Thanh ở Thuận Hải, quên đồng ruộng Cao
    Lãnh – nơi cụ thân sinh yên nghỉ nghìn thu, quên Bến Nhà
    Rồng – nơi Bác rời quê hương lên đường ra đi cứu nước. Với
    tình cảm tha thiết và sâu thẳm đó, năm 1946 tại một cuộc
    họp báo ở Paris, Bác đã thống thiết nói với mọi người rằng
    “Nam bộ là máu của Việt Nam, là thịt của Việt Nam”1. Về sau
    này, Bác còn nói “miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”.
    Trong cuộc đời của Bác Hồ, Bác đã dành nhiều giọt
    nước mắt nhất để khóc riêng cho miền Nam. Trong kháng
    chiến chống Pháp, Bác đã khóc khi nghe kể những gương
    chiến đấu anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Trong kháng
    chiến chống Mỹ, Bác lại khóc nhiều hơn. Bác đã khóc khi
    nghe câu hát “Miền Nam yêu quý ta ơi”2. Bác đã khóc nhiều
    lần khi gặp các đại biểu từ miền Nam ra thăm thủ đô Hà Nội.
    Bác ơi! Đời Bác muốn chẳng ai phải khóc
    Nên Bác bao lần đã khóc miền Nam3.
    Cho nên những năm cuối cùng của tuổi bảy mươi, tuy
    sức khỏe đã suy giảm nhiều, nhưng nỗi nhớ miền Nam ở
    Bác lại càng thôi thúc rạo rực hơn, ý chí muốn vào Nam
    1. Phạm Duy Thông. Nhớ Bác Hồ, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.45.
    2. Ái Liên, Nhớ Bác, xem “Bác Hồ với văn nghệ sĩ”, tr.187.
    3. Hoàng Tố Nguyên. Con vẫn nghe tiếng Bác, Bác ơi, xem “Muôn vàn tình
    thương yêu”, tr.95.

    Những đền thờ Bác ở Tây Nam bộ«29

    thăm đồng bào càng mạnh hơn bao giờ hết. Hàng ngày, Bác
    tập đi bộ và cố gắng thực hiện mọi sự chuẩn bị để mong sao
    Bộ Chính trị đồng ý để Bác lên đường vượt núi trèo đèo vào
    với miền Nam thương nhớ. Nhưng, Bác đã chưa đến được
    với miền Nam, miền Nam chưa được nhìn thấy Bác thì Bác
    đã ra đi và để lại cho non sông Việt Nam, cho đồng bào
    Nam Bắc những lời di chúc thắm thiết tình người, sâu sắc
    đại nghĩa và một lời nguyện ước sắt đá đối với miền Nam và
    cả nước.
    Còn non, còn nước, còn người
    Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.
    Có thể nói, trong suốt bốn mươi năm qua, lịch sử đã
    đọng lại trong con người của Bác cũng như trong mỗi tâm
    hồn Việt Nam một hình ảnh miền Nam anh hùng và đau
    thương, và điều này đã chi phối mạnh mẽ đến mọi sinh
    hoạt, suy nghĩ của xã hội và con người Việt Nam. Chúng
    ta đã từng chiến đấu, sản xuất, học tập vì miền Nam ruột
    thịt và lấy miền Nam để đọ sức với kẻ thù và cư xử với bạn
    bè năm châu, bốn biển. Thơ ca văn học, hội họa, điêu khắc,
    âm nhạc... và những sáng tạo trong ngoại giao, trên chiến
    trường phần rất lớn cũng dành cho miền Nam yêu quý. Do
    đó, đã hình thành trong mỗi con người Việt Nam những
    tình cảm, suy nghĩ, cách ứng xử, quan niệm đạo đức, chuẩn
    mực tư cách, những hành vi cụ thề, những sáng tạo vật chất
    và tinh thần xuất phát từ lòng yêu quý miền Nam, tự nguyện
    vọng chung của dân tộc về sự sum họp Nam Bắc một nhà.
    Miền Nam đã trở thành một nhân tố rất quan trọng của bản
    sắc Việt Nam trong hiện đại mà Bác Hồ là một hình ảnh tiêu

    30«Nhiều tác giả
    biểu nhất. Miền Nam đã yêu Bác Hồ với một tình yêu thật
    kỳ diệu, thật mãnh liệt, bởi vì chính Bác là người thể hiện
    cái chung nhất và cao quý nhất của Việt Nam, của con người
    Việt Nam, hội tụ được phong cách khắp ba miền đất nước.
    Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nghệ sĩ Diệp Minh
    Châu đã viết: “Hôm nay, trong cảnh vĩ đại của ngày độc lập
    chưa từng có ở Nam bộ, sau khi nghe lời tuyên ngôn độc lập
    của Cha, lời thống thiết hùng mạnh của Cha và lời ca Hồ Chí
    Minh muôn năm của Đoàn thiếu nhi Nam bộ, con đã cảm
    xúc vô cùng và vừa khóc, con vừa cắt lấy d...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không chỉ mang tới nguồn kiến thức giúp con người ta tự tin khi đứng trước giông bão.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC DUY NHẤT - VŨ THƯ - THÁI BÌNH !