19/5 - Sinh nhật Bác Hồ và những sự kiện lịch sử
nhung-ke-xuat-chung

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:45' 05-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:45' 05-03-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
MALCOLM GLADWELL
Những kẻ xuất chúng
Cách nhìn mới về nguồn gốc thành công
OUTLIERS | THE STORY OF SUCCESS
Bản quyền tiếng Việt © 2009 Công ty Sách Alpha
Diệu Ngọc dịch
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và
Nhà Xuất Bản
Con đường dẫn đến thành công?
TRƯƠNG GIA BÌNH
Chủ tịch Tập đoàn FPT
Bạn luôn mong muốn thành công? Bạn mơ ước trở thành một nhân vật xuất
chúng? Nếu bạn làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, những yếu tố nào
giúp bạn có thể trở thành một người như Bill Gates? Nếu hoạt động trong
lĩnh vực nghệ thuật, bạn từng bao giờ so sánh mình với ban nhạc The Beatles
hay thiên tài Mozart chưa? Trong cuốn sách giản dị này có những chỉ dẫn,
gợi mở con đường hướng mỗi người tới thành công như mong ước.
Malcolm Gladwell, tác giả cuốn sách Những kẻ xuất chúng và hai tác phẩm
nổi tiếng khác là Trong chớp mắt và Điểm bùng phát, năm 2005 từng được
Tạp chí Times bầu chọn là một trong 100 người ảnh hưởng nhất thế giới.
Vì sao ông có tầm ảnh hưởng lớn như vậy, thật đơn giản, vì ông có khả năng
xuất sắc đưa ra những nhận định về quy luật xã hội tưởng chừng như rất bình
dị mà lại rất sâu sắc. Những nhận định của ông trong cuốn Những kẻ xuất
chúng giúp các bậc làm cha mẹ tiên đoán khả năng: Con cái họ có thể trở
thành vận động viên thể thao nổi tiếng? Có thể thành công rực rỡ trong
ngành công nghệ thông tin? Hoặc có thể trở thành luật sư danh tiếng?
Từ những lý giải về thành công của ban nhạc lừng danh The Beatles, tỉ phú
phần mềm Bill Gates, các luật sư nổi tiếng phố Wall, cùng rất nhiều thiên tài
khác… tác giả chỉ ra rằng cuộc đời của những người thành công tuân thủ
những điểm chung thú vị. Đồng thời ông cũng đưa ra cách lý giải đầy thuyết
phục cho thất bại đáng buồn của những thần đồng có chỉ số IQ rất cao. Phát
hiện này làm cuốn sách đặc sắc và khác biệt về quan điểm phát huy tiềm
năng con người.
Tác giả quả quyết rằng các vĩ nhân không tự dưng mà có, cũng không được
thúc đẩy bởi chỉ có thiên tài hay tài năng. Quả đúng như cha ông ta nói: “Có
công mài sắt có ngày nên kim”, vĩ nhân là người biết nắm bắt cơ hội từ môi
trường và hoàn cảnh, và cùng với miệt mài khổ luyện mà họ vươn lên những
đỉnh cao người khác không thể đạt tới. Mỗi chúng ta, nếu có khát vọng làm
được những điều lớn lao, trở thành người xuất chúng, thì hãy chăm chỉ rèn
luyện kỹ năng và nắm bắt cơ hội để vươn tới đỉnh cao. Chúng ta cũng có thể
hướng dẫn con cái mình ngay từ bây giờ giúp chúng có được những lợi thế
đặc biệt để một ngày nào đó chúng ta có thể tự hào. Biết đâu bạn sẽ trở thành
bố mẹ của những Bill Gates, hay của nhóm Beatles tương lai…
Với cuốn sách nhỏ này, bạn có thể tìm được những gợi ý đơn giản nhưng vô
cùng hữu hiệu cho con cái hoặc chính bản thân bạn.
Từ cách nhìn và những lập luận trong cuốn sách, suy nghĩ về Việt Nam,
chúng ta có thể thấy vì sao có những thế hệ vàng trong tất cả các lĩnh vực từ
thể thao đến khoa học hay trong xã hội, tại sao thành công của thế hệ này rất
khác biệt với thành công của thế hệ khác cũng như có thể dự đoán về thành
công của chính thế hệ mình…
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Hy vọng cuốn sách nhỏ này gợi mở
cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân cách thức hun đúc nguyên khí Việt Nam!
Tháng 7 – 2009
Lời giới thiệu
Bí ẩn Roseto
“NHỮNG NGƯỜI NÀY QUA ĐỜI VÌ TUỔI CAO. CÓ VẬY THÔI.”
1.
Roseto Valfortore nằm cách thành Rome khoảng một trăm dặm về phía đông
nam dưới chân đồi Apennine, thuộc tỉnh Foggia của Italia. Cũng giống như
những ngôi làng mang phong cách trung cổ, thị trấn này quây quần xung
quanh một quảng trường trung tâm rộng lớn. Đối diện với quảng trường là
Palazzo Marchesale − lâu đài của dòng họ Saggese, từng có thời là lãnh chúa
giàu có ở vùng này. Một lối đi có mái vòm bắt đầu từ một mé hướng thẳng ra
nhà thờ Madonna del Carmine. Những bậc thang đá hẹp chạy dọc lên sườn
đồi, áp liền hai bên là những căn nhà xây bằng đá lợp ngói đỏ san sát thành
cụm với nhau.
Trong suốt nhiều thế kỷ, những nông dân của Roseto làm việc ở các mỏ đá
hoa cương trong những quả đồi xung quanh, hay cấy cày trồng trọt trên các
thửa ruộng ở thung lũng phía dưới, cuốc bộ bốn hay năm dặm đường xuống
núi mỗi sớm mai và rồi lại cần mẫn đi hết quãng đường dài trở về khu đồi
khi chiều muộn. Cuộc sống thật gieo neo. Cư dân thị trấn không hề biết chữ,
nghèo tả tơi và chẳng có mấy hy vọng được cải thiện về mặt kinh tế cho đến
khi tin tức về mảnh đất của vận hội bên kia bờ đại dương chợt đến với
Roseto hồi cuối thế kỷ XIX.
Tháng Giêng năm 1882, một nhóm 11 người Roseto − mười người đàn ông
và một cậu trai − dong buồm đến New York. Đêm đầu tiên họ ngủ ngay trên
sàn quán Little Italia ở đường Mulberry, khu Manhattan. Sau đó họ liều thử
vận may đi về phía tây, cuối cùng đã tìm được việc làm trong một mỏ đá ác-
đoa cách mười chín dặm về phía tây thành phố New York, gần thị trấn
Bangor, bang Pennsylvania. Trong năm tiếp sau, mười lăm người Roseto rời
Italia để đến với nước Mỹ, vài người trong đó cũng dừng chân ở Bangor, sát
cánh với những người đồng hương trong mỏ đá ác-đoa. Những người nhập
cư ấy báo tin cho quê hương Roseto về miền đất hứa ở vùng Tân Thế Giới
và rất nhanh chóng hết nhóm người Roseto này theo chân nhóm người khác
gói ghém đồ đạc túi dết thẳng tiến tới Pennsylvania, cho tới khi lạch nguồn
nhập cư ban đầu trở thành một cơn lũ cuốn. Chỉ tính riêng năm 1894, khoảng
một nghìn hai trăm người gốc Roseto đã xin hộ chiếu nhập cảnh Hoa Kỳ, để
lại tất cả lối phố nơi làng quê cũ của mình hoang liêu.
Người Roseto bắt đầu mua lại đất đai trên sườn đồi lổn nhổn đá nối với
Bangor bằng một con đường xe súc vật kéo mòn vẹt và dốc thoai thoải. Họ
xây dựng những căn nhà bằng đá hai tầng san sát thành cụm với mái lợp đá
ác đoa trên những con đường hẹp chạy ngoằn ngoèo lên xuống sườn đồi. Họ
dựng lên một nhà thờ, gọi nó là Madonna del Carmine và đặt tên con phố
chính nơi nhà thờ tọa lạc là Đại lộ Garibaldi − tên một vị đại anh hùng thống
nhất nước Italia. Thuở ban đầu, họ gọi thị trấn của mình là Tân Italia. Nhưng
rất nhanh sau đó họ đổi lại thành Roseto − cái tên dường như thích hợp nhất
để biểu thị rằng hầu hết họ đều đến từ cùng một ngôi làng ở Italia.
Vào năm 1896, Cha Pasquale de Nisco một mục sư trẻ tuổi năng động tiếp
quản công việc tại nhà thờ Madonna del Carmine. Cha De Nisco tạo dựng
những cộng đồng tôn giáo và tổ chức các dịp lễ lạt. Ông khuyến khích cư
dân thị trấn làm sạch đất đai, trồng hành tây, đậu đũa, khoai tây, dưa chuột
và các cây hoa quả trong những mảnh vườn phía sau nhà họ. Ông phân phát
hạt giống và hành củ. Cả thị trấn bừng bừng sinh khí. Người dân Roseto bắt
đầu nuôi lợn ở sau vườn và trồng nho để ủ rượu tại gia. Vài trường học, một
công viên, một tu viện và một nghĩa trang được xây dựng. Các cửa tiệm và
hàng bánh ngọt, nhà hàng và quán bar mở cửa dọc theo Đại lộ Garibaldi.
Hơn một tá nhà xưởng bung ra sản xuất áo choàng cho ngành may mặc. Thị
trấn Bangor láng giềng đa phần là người xứ Wales và Anh quốc, thị trấn kế
bên chủ yếu là người gốc Đức − dựa vào mối quan hệ căng thẳng giữa người
Anh với người Đức cũng như người Italia trong những năm tháng ấy − rõ
ràng thị trấn Roseto chỉ gồm toàn cư dân Roseto sinh sống mà thôi. Nếu bạn
dạo bước ngược xuôi những con phố Roseto − bang Pennsylvania trong một
vài thập niên sau năm 1900, bạn sẽ chỉ nghe thấy tiếng Italia, mà không phải
là thứ tiếng Italia nào khác ngoài loại phương ngữ miền Nam Foggia chuẩn
xác vốn được sử dụng ở Roseto. Roseto nằm trong lòng bang Pennsylvania
là một thế giới nhỏ bé riêng biệt tự cấp tự túc − tất cả, nhưng lại không hề
được những cộng đồng xung quanh biết tới − và có lẽ mọi việc sẽ vẫn duy trì
như thế nếu không xuất hiện một người đàn ông có tên Stewart Wolf.
Wolf vốn là một bác sĩ. Ông nghiên cứu về hệ tiêu hóa và dạ dày, dạy học tại
trường Y thuộc Đại học Oklahoma. Ông trải qua mùa hè tại một nông trại ở
Pennsylvania, không xa Roseto là mấy – dù có thế đương nhiên điều đó
chẳng ghê gớm gì, bởi Roseto quá đắm đuối trong thế giới biệt lập của riêng
mình đến mức dù ai đó sống ở ngay thị trấn kế bên cũng chẳng hay biết gì
nhiều về nó. “Một lần tôi về đó nghỉ hè − có lẽ là hồi cuối những năm 1950
− Tôi được mời đến nói chuyện tại một hội Y tế địa phương,” nhiều năm sau
đó Wolf kể lại trong một cuộc phỏng vấn. “Sau khi cuộc nói chuyện kết
thúc, một vị bác sĩ địa phương mời tôi đi làm một chầu bia. Trong khi chúng
tôi uống, anh ta nói, “Anh biết đấy, tôi đã hành nghề được mười bảy năm.
Bệnh nhân của tôi đến từ khắp mọi nơi, thế mà hầu như tôi chưa gặp một
trường hợp người Roseto nào dưới sáu lăm tuổi mắc bệnh tim.”
Wolf sửng sốt thực sự. Đó là vào hồi những năm 1950, nhiều năm trước khi
xuất hiện các loại biệt dược làm giảm cholesterol cũng như những biện pháp
tích cực hòng ngăn ngừa bệnh tim mạch. Những cơn đau tim là một thứ bệnh
dịch ở nước Mỹ. Chúng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đối với người
ở độ tuổi dưới 65. Nói theo cách thông thường là, không thể có chuyện anh
làm bác sĩ mà lại chưa gặp ca bệnh tim nào hết.
Wolf quyết định điều tra. Ông tranh thủ sự trợ giúp từ một số sinh viên và
đồng nghiệp ở Oklahoma. Họ tập hợp các giấy chứng tử của cư dân trong thị
trấn, lần ngược trở lại tối đa số năm mà họ có thể. Họ phân tích các ghi chép
y khoa. Họ xem xét lịch sử bệnh lý và xây dựng các phả hệ gia đình. “Chúng
tôi bận túi bụi,” Wolf nói. “Chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu sơ bộ.
Chúng tôi bắt đầu vào năm 1961. Vị thị trưởng đã nói, 'Tất cả các chị em gái
của tôi sẽ giúp đỡ các anh.' Ông ta có bốn chị em gái. Ông tiếp, 'Các anh có
thể sử dụng phòng họp của Hội đồng thị trấn.' Tôi hỏi lại, 'Thế các ông sẽ
họp hội đồng ở đâu?' Ông đáp lời, 'À vâng, chúng tôi sẽ hoãn lại một chút.'
Các bà các cô mang bữa trưa tới cho chúng tôi. Chúng tôi có những căn lều
nhỏ để lấy máu và làm điện tâm đồ (EKGs). Sau đó tôi trò chuyện với nhà
chức trách. Họ cho chúng tôi sử dụng trường học trong mùa hè. Chúng tôi
mời toàn bộ dân Roseto tới kiểm tra.
Kết quả thật đáng choáng váng. Ở Roseto, rõ ràng không có ai dưới độ tuổi
55 bị chết do đau tim hay có bất cứ dấu hiệu nào của bệnh tim. Với những
người trên 65 tuổi, tỉ lệ tử vong do bệnh tim ở Roseto chỉ khoảng bằng một
nửa so với tỷ lệ chung của nước Mỹ. Tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở
Roseto, trên thực tế còn thấp hơn 30 đến 35% so với dự tính.
Wolf lại mời tới một người bạn tên là John Bruhn − một nhà xã hội học ở
Oklahoma, để giúp đỡ ông. “Tôi thuê các sinh viên chuyên ngành y khoa và
các sinh viên xã hội học đã tốt nghiệp đến đây tiến hành phỏng vấn. Chúng
tôi đến từng nhà, trò chuyện với tất cả cư dân từ 21 tuổi trở lên,” Bruhn nhớ
lại. Việc ấy đã xảy ra hơn năm mươi năm về trước, thế mà trong giọng nói
của Bruhn vẫn đượm vẻ kinh ngạc khi ông miêu tả những gì họ phát hiện
được. “Không hề có tự tử, không nghiện rượu, không nghiện ma túy và rất ít
tội phạm. Không có ai phải sống dựa vào phúc lợi. Sau đó chúng tôi xem xét
đến các vết loét trong hệ tiêu hóa. Họ cũng chẳng hề mắc phải chút nào.
Những người này nếu chết đều do tuổi cao. Có vậy thôi.”
Những người trong giới y khoa của Wolf có một cái tên để gọi những nơi
như Roseto − một nơi nằm ngoài những trải nghiệm hàng ngày, nằm ngoài
những quy luật thông thường. Roseto là một Kẻ xuất chúng.
2.
Suy nghĩ đầu tiên của Wolf là người Roseto hẳn phải tuân thủ nghiêm ngặt
những thói quen ăn kiêng theo lối Cựu Thế Giới khiến họ khỏe khoắn hơn
hẳn những người Mỹ khác. Nhưng ông thấy ngay rằng điều đó không có căn
cứ. Người Roseto sử dụng mỡ lợn để nấu nướng thay vì dùng loại dầu ô-liu
lành mạnh hơn nhiều mà họ vốn vẫn sử dụng ở Italia. Pizza ở Italia là cùi
bánh mỏng với muối, dầu và có thể thêm chút cà chua, cá trống hay hành
tây. Pizza ở Pennsylvania là bánh bột mỳ nhào cộng thêm xúc xích, hạt tiêu,
xúc xích Italia, thịt xông khói và đôi khi cả trứng nữa. Những loại đồ ngọt
như bánh biscotti và tarralli thường được dành cho dịp Giáng sinh và Lễ Tạ
ơn; nhưng ở Roseto họ dùng chúng quanh năm suốt tháng. Khi Wolf nhờ các
chuyên gia về dinh dưỡng phân tích thói quen ăn uống điển hình của người
Roseto, họ phát hiện ra con số ghê gớm là 41% lượng calori trong khẩu phần
ăn của người Roseto có nguồn gốc từ chất béo. Đây cũng không phải là một
thị trấn mà người dân thức dậy từ tinh mơ để tập yoga hay chạy bộ quãng
đường sáu dặm liền. Người Roseto ở Pennsylvania nghiện thuốc rất nặng và
nhiều người phải vật lộn với bệnh béo phì.
Nếu chế độ ăn kiêng và tập luyện không giải thích được cho những phát hiện
về sức khỏe, vậy nguồn gốc di truyền thì sao? Người Roseto là một nhóm
gắn bó khăng khít đến từ cùng một vùng đất của nước Italia, và suy nghĩ tiếp
theo của Wolf là tự hỏi xem liệu những người này có phải thành viên trong
cả một dòng tộc khỏe mạnh dạn dày khác thường bảo vệ họ khỏi tật bệnh
hay không. Nghĩ vậy nên ông đã truy dấu họ hàng thân thích của người
Roseto sống rải rác ở những vùng khác của nước Mỹ để xem liệu họ có cùng
chung hưởng thứ sức khỏe tráng kiện đáng nể như những người anh em ở
Pennsylvania hay không. Họ không hề.
Tiếp theo ông xem xét đến khu vực địa lý mà người Roseto sinh sống. Liệu
có khả năng nào việc sinh sống ở vùng chân đồi phía đông Pennsylvania lại
có thứ gì đó tốt cho sức khỏe của họ không? Hai thị trấn gần kề Roseto nhất
là Bangor, chỉ xuôi phía dưới khu đồi và Nazareth, cách đó vài dặm. Cả hai
thị trấn đều có quy mô cỡ như Roseto và dân chúng đều là người châu Âu
nhập cư làm lụng chăm chỉ tương tự nhau. Wolf sục sạo tất cả ghi chép y
khoa của cả hai thị trấn. Ở lứa tuổi trên 65, tỉ lệ tử vong do bệnh tim ở cả
Nazareth và Bangor đều cao gấp ba lần so với Roseto. Lại sa vào ngõ cụt.
Điều Wolf bắt đầu ngộ ra là bí mật của Roseto không nằm ở chế độ ăn kiêng
hay tập luyện hay di truyền hay địa thế. Đó phải là chính bản thân Roseto.
Khi Bruhn và Wolf dạo bộ quanh thị trấn, họ đã phát hiện ra nguyên cớ tại
sao. Họ chính mắt trông thấy cách người Roseto thăm hỏi nhau, dừng lại trò
chuyện bằng tiếng Italia trên đường phố, hay nấu nướng giúp nhau ngay
trong vườn sau nhà. Họ đã hiểu về hệ thống đại gia đình nâng đỡ cả cấu trúc
xã hội của thị trấn. Họ chứng kiến các gia đình với ba thế hệ cùng chung
sống dưới một mái nhà cũng như các bậc ông bà được tôn kính đến thế nào.
Họ đến chỗ đám đông tụ tập ở nhà thờ Madonna del Carmine và cảm nhận
được hiệu ứng của sự thống nhất và bình an của nhà thờ. Họ đếm được hai
mươi hai tổ chức dân sự khác nhau tồn tại trong một thị trấn chỉ vỏn vẹn hai
nghìn dân. Họ để mắt tới đặc tính bình quân chủ nghĩa nổi bật của cộng
đồng, ngăn cản những kẻ giàu có phô trương và giúp cho những người kém
thành công che giấu bớt thất bại.
Trong quá trình di thực văn hóa dân cư vùng nam Italia đến khu đồi miền
đông Pennsylvania, người Roseto đã sáng tạo nên cả một cấu trúc xã hội
vững chãi và kiên cố đủ khả năng cô lập họ khỏi những áp lực đến từ thế
giới hiện đại. Người Roseto khỏe khoắn bởi chính nơi họ xuất thân, bởi
chính thế giới mà họ đã sáng tạo nên cho mình ngay trong khu thị tứ nhỏ bé
giữa vùng đồi núi.
“Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên đặt chân tới Roseto, bạn sẽ trông thấy ngay những
bữa ăn của các gia đình ba thế hệ chung sống, những tiệm bánh mỳ, người
dân dạo bước qua lại trên đường phố, ngồi ở hàng hiên trò chuyện với nhau,
những phân xưởng may mặc nơi phụ nữ miệt mài làm việc cả ngày dài, trong
khi đàn ông làm việc trong những mỏ đá ác-đoa,” Bruhn nói. “Thật kỳ diệu!”
Khi Bruhn và Wolf lần đầu tiên công bố những phát hiện của mình trước
giới y học, bạn có thể tưởng tượng ra ngay thái độ hoài nghi mà hai người
bọn họ phải đối mặt. Họ bước vào những phòng hội thảo nơi các đồng sự đã
bày sẵn hàng dãy dằng dặc số liệu sắp vào những bảng biểu phức tạp liên
quan đến loại gene này hay quy trình sinh lý học khác, và chính bản thân
những người đó lại phát ngôn thay vì được nghe nói về những tác dụng kỳ lạ
và thần diệu của việc người ta dừng bước để trò chuyện với nhau trên đường
phố hay ba thế hệ gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà. Để có một
cuộc sống trường thọ, trí tuệ tập thể khi đó khẳng định rằng, việc đó xét trên
phạm vi rộng phụ thuộc vào cái chúng ta là ai − đúng thế, chính là mã di
truyền (gene). Nó tùy thuộc vào những quyết định chúng ta đưa ra − về việc
chúng ta lựa chọn ăn thức gì, chúng ta lựa chọn tập tành bao nhiêu, và cả
việc hệ thống y tế điều trị hiệu quả tới mức nào. Không một ai quen với việc
suy nghĩ về sức khỏe trên khía cạnh cộng đồng.
Wolf và Bruhn phải thuyết phục giới y khoa suy nghĩ về sức khỏe và các
bệnh tim mạch theo một phương cách hoàn toàn mới mẻ: hai người buộc
phải chỉ cho bọn họ thấy rằng sẽ không thể hiểu được tại sao một người nào
đó lại khỏe mạnh nếu tất cả những gì người đó làm chỉ là nghĩ về những lựa
chọn hay hành động của một cá nhân riêng rẽ biệt lập. Họ buộc phải nhìn
rộng hơn, ra ngoài cá thể đó. Họ buộc phải hiểu về nền văn hóa mà anh ta/cô
ta là một phần cấu thành trong đó, hiểu xem bè bạn và gia đình của người đó
ra sao, xem nơi chốn mà họ xuất thân thế nào. Người trong giới y học sẽ phải
coi trọng ý tưởng rằng những giá trị của thế giới mà chúng ta đang sinh sống
cũng như những người vây bọc quanh ta có tác động sâu sắc đến việc định
hình nên mỗi chúng ta.
Trong cuốn sách Những kẻ xuất chúng này, tôi muốn lý giải về thành công
giống như cách Stewart Wolf đã lý giải cho chúng ta về sức khỏe.
Phần Một
CƠ HỘI
Chương I. Hiệu ứng Matthew
VÌ PHÀM AI ĐÃ CÓ, THÌ ĐƯỢC CHO THÊM VÀ SẼ CÓ DƯ THỪA;
CÒN AI KHÔNG CÓ, THÌ NGAY CÁI ĐANG CÓ, CŨNG SẼ BỊ LẤY ĐI.
Matthew 25:29
1.
Vào một ngày mùa xuân ấm áp tháng Năm năm 2007, hai đội Medicine Hat
Tigers và Vancouver Giants chạm trán nhau trong giải vô địch khúc côn cầu
Memorial Cup ở Vancouver, bang British Columbia, Canada. Tigers và
Giants là hai đội xuất sắc nhất Giải ngoại hạng khúc côn cầu Canada, cũng
chính là giải vô địch khúc côn cầu trẻ chất lượng nhất thế giới. Đây đều là
những ngôi sao tương lai của môn thể thao − những tuyển thủ mười bảy,
mười tám và mười chín tuổi, những người đã trượt băng và đánh bóng từ hồi
họ mới chỉ là các cậu bé vừa chập chững biết đi.
Trận đấu được phát sóng trên kênh truyền hình quốc gia Canada. Ngược
xuôi trên những con đường khu trung tâm buôn bán của Vancouver, các
băng rôn về Memorial Cup treo phấp phới ở các trụ đèn. Sân vận động chật
cứng người. Một dải thảm đỏ trải dài trên mặt băng và xướng ngôn viên giới
thiệu những vị tai to mặt lớn dự khán trận đấu. Đầu tiên là Thủ hiến bang
British Columbia − ngài Gordon Campbell. Tiếp đó, giữa những tràng pháo
tay náo động, Gordie Howe − một trong những huyền thoại của môn thể thao
này bước ra. “Thưa các quý bà và quý ông,” xướng ngôn viên hô lớn. “Đây
là Ngài Hookey!”
Trong sáu mươi phút tiếp sau, cả hai đội đã cống hiến một trận khúc côn cầu
hừng hực khí thế và giằng co quyết liệt. Vancouver ăn bàn trước, ngay đầu
hiệp hai, trong một cú bật bóng của Mario Bliznak. Đến cuối hiệp hai, tới
lượt Medicine Hat ghi điểm, khi tay săn bàn hàng đầu Darren Helm châm
ngòi một cú đánh nhanh vượt qua thủ thành Vancouver − Tyson Sexsmith.
Vancouver đáp trả vào hiệp ba, ghi được bàn thắng quyết định của trận đấu
và rồi, khi Medicine Hat để mặc thủ thành của mình chống đỡ tuyệt vọng,
Vancouver đã ghi bàn lần thứ ba.
Sau trận đấu, các tuyển thủ và gia đình của họ cũng như phóng viên thể thao
trên khắp Canada len lỏi chen chúc vào phòng thay đồ của đội thắng trận.
Bầu không khí nồng nặc khói thuốc lá, hơi sâm-panh và trang phục đấu khúc
côn cầu ướt đẫm mồ hôi. Trên tường treo một dải băng rôn vẽ tay: “Nắm
chắc cuộc chơi.” Ở chính giữa căn phòng, huấn luyện viên đội Giants, ông
Don Hay tỏ ra đầy xúc động. “Tôi quá tự hào về những chàng trai này,” ông
nói. “Cứ nhìn quanh phòng thay đồ mà xem. Tất cả bọn họ đều dốc toàn tâm
toàn ý vào trận đấu.”
Môn khúc côn cầu ở Canada đúng là một hệ thống tuyển lựa nhân tài. Hàng
nghìn cậu bé Canada bắt đầu chơi môn thể thao này ở cấp độ “học nghề”
thậm chí còn trước khi chúng đi nhà trẻ. Từ thời điểm đó trở đi, đã có đủ các
giải vô địch cho mọi lứa tuổi, và ở mỗi cấp độ như thế, các tuyển thủ lại
được sàng lọc, phân loại, đánh giá và kết quả là những tay chơi tài năng nhất
sẽ được tách riêng và chuẩn bị cho cấp độ tiếp theo. Khi các tuyển thủ này
bước vào độ tuổi từ 13 đến 19, những người xuất sắc nhất trong số này lại
được thi thố trong một giải đấu danh giá có tên là Major Junior A, chính là
đỉnh của kim tự tháp. Và nếu đội bóng Major Junior A của bạn được chơi ở
Memorial Cup, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang ở đỉnh chóp của kim tự
tháp.
Đây chính là con đường chọn lựa những ngôi sao tương lai ở hầu hết các
môn thể thao. Đây là cách thức chọn lựa của môn bóng đá ở châu Âu và
Nam Mỹ, cũng là cách các vận động viên Olympic được tuyển lựa. Cách
thức này, cũng không nhiều khác biệt lắm so với cách mà nghệ thuật âm
nhạc cổ điển lựa chọn những nghệ sĩ bậc thầy trong tương lai, nghệ thuật vũ
ba lê tuyển chọn những nghệ sĩ múa tương lai, hay các hệ thống giáo dục
tinh hoa lựa chọn ra các nhà khoa học và trí thức kế tiếp của mình.
Bạn không thể nào mua tấm vé tham dự giải khúc côn cầu Major Junior A.
Bất kể cha mẹ bạn là ai, ông bạn ghê gớm ra sao, hay gia đình bạn làm
ngành nghề gì. Cũng chẳng hề hấn gì nếu như bạn sống ở tận ngõ ngách hẻo
lánh nào đó của một tỉnh cực nam Canada. Nếu bạn có tài năng, mạng lưới
rộng lớn những người chiêu mộ và phát hiện tài năng khúc côn cầu cũng sẽ
tìm đến bạn, và nếu bạn tự nguyện chấp nhận phát triển năng lực ấy, hệ
thống sẽ tưởng thưởng cho bạn. Thành công trong môn khúc côn cầu được
dựa trên công trạng cá nhân − và cả hai từ đó đều quan trọng như nhau. Các
tuyển thủ được đánh giá thông qua những màn trình diễn của riêng họ,
không phải của ai khác, và dựa vào nền tảng tài năng của họ, chứ không phải
căn cứ vào những lập luận cứng nhắc nào đó.
Liệu có phải như vậy?
2.
Đây là một cuốn sách nói về những kẻ xuất chúng, về những con người làm
được những việc vượt ra khỏi chuẩn mực thông thường. Theo diễn tiến của
những chương tiếp sau, tôi sẽ lần lượt giới thiệu đến các bạn các dạng “ngoại
hạng”: thiên tài khoa học, tài phiệt kinh doanh, ngôi sao ca nhạc, các lập
trình viên phần mềm. Chúng ta sẽ hé lộ bí mật của những luật sư danh tiếng,
tìm hiểu xem điều gì khác biệt giữa những phi công cừ nhất với những người
làm nổ máy bay, và thử phát hiện xem tại sao người châu Á lại giỏi Toán đến
vậy. Trong khi khảo sát cuộc sống của những người nổi bật ngay giữa chúng
ta − những người tài khéo, giỏi giang, tiên phong − tôi sẽ khẳng định rằng có
những sai lầm sâu sắc trong cách chúng ta nhìn nhận về thành công.
Câu hỏi chúng ta vẫn thường đặt ra khi nói về những người thành công là gì?
Chúng ta muốn xem họ ra sao − họ sở hữu tính cách như thế nào, họ thông
minh đến cỡ nào, phong cách của họ có gì đặc biệt, hay họ vốn sinh ra với
thứ tài năng thiên bẩm nào. Và chúng ta một mực cho rằng chính những
phẩm chất cá nhân đó đủ để giải thích cách một người đạt tới đỉnh cao.
Trong những cuốn tự truyện được các tỉ phú, doanh nhân, ngôi sao ca nhạc
hay những người nổi tiếng xuất bản nhan nhản hàng năm, câu chuyện lúc
nào cũng y nguyên một kiểu: người hùng của chúng ta được sinh ra trong
những hoàn cảnh gieo neo, nhờ những nỗ lực bền bỉ và tài năng mà đã tìm
được con đường đi đến sự vĩ đại. Trong Kinh thánh, Joseph vốn bị những
người anh em đuổi đi và bán làm nô lệ, sau đó vươn lên để trở thành cánh
tay phải của pharaoh là nhờ vào trí thông minh và tư duy xuất sắc của mình.
Trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng hồi thế kỉ XIX của Horatio Alger ,
những chàng trai trẻ sinh ra trong cảnh bần hàn vươn lên trở thành giàu có
nhờ vào sự kết hợp giữa lòng gan dạ quả cảm cộng với óc sáng tạo. “Tôi
nghĩ xét cho cùng đó là điều bất lợi,” Jeb Bush có lần đã bày tỏ về việc là
con trai của một Tổng thống Mỹ, em trai của một đời Tổng thống Mỹ khác
đồng thời là cháu của một thương gia ngân hàng Phố Wall kiêm nghị sĩ Hoa
Kỳ có ảnh hưởng ra sao tới sự nghiệp của riêng ông. Khi ông tranh cử chức
thống đốc bang Florida, ông nhấn đi nhấn lại về bản thân mình như một
“người tự lập,” và đó cũng là một thước đo thể hiện rằng chúng ta gắn chặt
thành công với những nỗ lực của cá nhân sâu sắc tới mức chẳng mấy người
còn để mắt tới lối diễn đạt đó nữa.
Nhiều năm về trước, trong buổi ra mắt tượng đài người anh hùng vĩ đại của
nền độc lập Hoa Kỳ − Benjamin Franklin , Robert Winthrop nói với đám
đông công chúng: “Hãy ngẩng đầu, hướng mắt vào hình ảnh của một người
vươn lên từ tay trắng, không được thừa hưởng chút nào từ dòng dõi gia đình
hay các mối bảo trợ, người không được hưởng thụ những lợi ích từ giáo dục
ban đầu vốn chẳng rộng mở − lại hàng trăm lần rộng mở − với tất cả các bạn,
người đã đảm nhận những công việc con đòi người ở bậc nhất tại những nơi
ông làm, nhưng đã sống một cuộc đời vinh quang và chết đi nhưng danh
tiếng của ông cả thế giới sẽ chẳng bao giờ quên lãng.”
Trong cuốn Những kẻ xuất chúng, tôi muốn thuyết phục các bạn rằng những
kiểu giải thích mang tính cá nhân về thành công như thế không có tác dụng
gì. Con người ta không vươn lên từ chỗ hoàn toàn trắng trơn. Chúng ta vẫn
thừa hưởng ít nhiều gì đó từ dòng dõi gia đình hoặc sự bảo trợ. Những người
thành công trông có vẻ tự thân làm lụng mọi điều. Nhưng trên thực tế, họ
vẫn luôn là kẻ thụ hưởng những lợi thế ẩn giấu và những cơ may phi thường
cũng như những di sản văn hóa cho phép họ học hành, làm việc chăm chỉ và
nhìn nhận về thế giới bằng những cách thức mà kẻ khác không thể. Việc
chúng ta sinh trưởng ở đâu và vào thời gian nào rõ ràng làm nên những điều
khác biệt. Nền văn hóa mà chúng ta thuộc về và những di sản do ông bà tổ
tiên để lại đã định hình những khuôn mẫu thành công bằng những cách thức
mà chúng ta không tài nào tưởng tượng nổi. Nói cách khác, sẽ không đầy đủ
nếu chúng ta chỉ biết hỏi xem những người thành công có đặc điểm như thế
nào. Chỉ thông qua việc hỏi xem họ xuất thân từ đâu chúng ta mới có thể làm
sáng tỏ những lôgic đằng sau việc một số người thành công còn người khác
thì không.
Các nhà sinh vật học thường vẫn nói về “sinh thái học” của một sinh thể: cây
sồi cao lớn nhất trong rừng sở dĩ cao lớn nhất không phải chỉ bởi nó nảy ra
từ quả sồi cứng cáp nhất; nó là cây cao lớn nhất bởi không có cây cối nào
chặn mất ánh sáng mặt trời của nó, đất đai xung quanh nó vừa sâu vừa màu
mỡ, không có con thỏ nào gặm mất vỏ cây khi nó còn non tơ, và cũng không
có tay thợ rừng nào đốn hạ khi nó chưa đủ cứng cáp. Chúng ta đều biết
những cây sồi cao lớn vươn lên từ những hạt mầm cứng cỏi. Nhưng liệu
chúng ta có hiểu biết đủ nhiều về thứ ánh sáng mặt trời đã sưởi ấm cho
những hạt mầm đó, về thứ thổ nhưỡng mà trong đó chúng cắm sâu bộ rễ, và
cả những con thỏ hay tay thợ rừng mà chúng đủ may mắn tránh thoát không?
Nhưng đây không phải cuốn sách nói về những cây đại thụ. Đây là cuốn sách
nói về những khu rừng − và môn khúc côn cầu đúng là một xuất phát điểm
hợp lý bởi cách giải thích xem ai chiếm lĩnh đỉnh cao trong môn khúc côn
cầu thực sự thú vị và phức tạp hơn rất nhiều so với vẻ bên ngoài. Trên thực
tế, đúng là khác biệt rõ ràng.
3.
Dưới đây là danh sách tuyển thủ của đội Medicine Hat Tigers năm 2007.
Hãy đọc thật kỹ và thử xem liệu bạn có phát hiện ra điều gì lạ lùng trong đó
hay không.
Bạn có nhìn ra không? Đừng vội chán nản nếu bạn không thấy gì, bởi biết
bao nhiêu năm trong giới khúc côn cầu chẳng ai phát hiện ra được điều gì
đặc biệt cả. Tình trạng đó cứ duy trì cho tới tận giữa thập niên 1980, khi một
nhà tâm lý học người Canada tên là Roger Barnsley lần đầu tiên khiến người
ta chú ý đến những hiện tượng tương ứng với lứa tuổi.
Barnsley đến xem một trận đấu khúc côn cầu của đội Lethbridge Broncos ở
nam Alberta − một đội bóng cũng chơi ở giải Major Junior A, hệt như
Vancouver Giants hay Medicine Hats Tigers. Ông đến đó cùng vợ là Paula
và hai cậu con trai. Người vợ đọc kỹ danh sách khi đi ngang qua bảng niêm
yết tuyển thủ hệt như bảng tên bạn nhìn thấy ở trên.
“Roger,” cô gọi, “anh có biết những cậu trai này sinh vào khi nào không?”
Barnsley nói có. “Chúng đều trong lứa từ mười sáu đến hai mươi, thế nên
phải sinh vào khoảng cuối những năm 1960.”
“Không, không phải thế,” Paula tiếp tục. “Tháng nào cơ?”
“Tôi nghĩ là cô ấy rỗi việc quá,” Barnsley nhớ lại. “Nhưng tôi ngó qua đó, và
tôi chợt hiểu điều mà cô ấy thắc mắc. Bởi một nguyên cớ nào đó, xuất hiện
một số lượng đáng kinh ngạc ngày sinh ở tháng Một, Hai và Ba.”
Barnsley trở về nhà đêm ấy và kiểm tra ngày sinh tháng đẻ của tất cả những
vận động viên khúc côn cầu chuyên nghiệp mà ông có thể tìm ra. Ông nhận
ra mẫu hình tương tự. Sau đó Barnsley, vợ ông và một đồng sự − A. H.
Thompson đã cùng nhau thu thập số liệu của mọi tuyển thủ trong giải vô
địch khúc côn cầu Ontario Junior. Câu chuyện vẫn như vậy. Có nhiều cầu
thủ sinh vào tháng Giêng hơn bất cứ tháng nào khác, và với mức chênh lệch
áp đảo. Thế còn tháng sinh phổ biến thứ hai thì sao? Chính là tháng Hai.
Đứng thứ ba? Là tháng Ba. Barnsley phát hiện ra rằng số tuyển thủ chơi ở
giải vô địch Ontario Junior sinh vào thá...
Những kẻ xuất chúng
Cách nhìn mới về nguồn gốc thành công
OUTLIERS | THE STORY OF SUCCESS
Bản quyền tiếng Việt © 2009 Công ty Sách Alpha
Diệu Ngọc dịch
NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và
Nhà Xuất Bản
Con đường dẫn đến thành công?
TRƯƠNG GIA BÌNH
Chủ tịch Tập đoàn FPT
Bạn luôn mong muốn thành công? Bạn mơ ước trở thành một nhân vật xuất
chúng? Nếu bạn làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, những yếu tố nào
giúp bạn có thể trở thành một người như Bill Gates? Nếu hoạt động trong
lĩnh vực nghệ thuật, bạn từng bao giờ so sánh mình với ban nhạc The Beatles
hay thiên tài Mozart chưa? Trong cuốn sách giản dị này có những chỉ dẫn,
gợi mở con đường hướng mỗi người tới thành công như mong ước.
Malcolm Gladwell, tác giả cuốn sách Những kẻ xuất chúng và hai tác phẩm
nổi tiếng khác là Trong chớp mắt và Điểm bùng phát, năm 2005 từng được
Tạp chí Times bầu chọn là một trong 100 người ảnh hưởng nhất thế giới.
Vì sao ông có tầm ảnh hưởng lớn như vậy, thật đơn giản, vì ông có khả năng
xuất sắc đưa ra những nhận định về quy luật xã hội tưởng chừng như rất bình
dị mà lại rất sâu sắc. Những nhận định của ông trong cuốn Những kẻ xuất
chúng giúp các bậc làm cha mẹ tiên đoán khả năng: Con cái họ có thể trở
thành vận động viên thể thao nổi tiếng? Có thể thành công rực rỡ trong
ngành công nghệ thông tin? Hoặc có thể trở thành luật sư danh tiếng?
Từ những lý giải về thành công của ban nhạc lừng danh The Beatles, tỉ phú
phần mềm Bill Gates, các luật sư nổi tiếng phố Wall, cùng rất nhiều thiên tài
khác… tác giả chỉ ra rằng cuộc đời của những người thành công tuân thủ
những điểm chung thú vị. Đồng thời ông cũng đưa ra cách lý giải đầy thuyết
phục cho thất bại đáng buồn của những thần đồng có chỉ số IQ rất cao. Phát
hiện này làm cuốn sách đặc sắc và khác biệt về quan điểm phát huy tiềm
năng con người.
Tác giả quả quyết rằng các vĩ nhân không tự dưng mà có, cũng không được
thúc đẩy bởi chỉ có thiên tài hay tài năng. Quả đúng như cha ông ta nói: “Có
công mài sắt có ngày nên kim”, vĩ nhân là người biết nắm bắt cơ hội từ môi
trường và hoàn cảnh, và cùng với miệt mài khổ luyện mà họ vươn lên những
đỉnh cao người khác không thể đạt tới. Mỗi chúng ta, nếu có khát vọng làm
được những điều lớn lao, trở thành người xuất chúng, thì hãy chăm chỉ rèn
luyện kỹ năng và nắm bắt cơ hội để vươn tới đỉnh cao. Chúng ta cũng có thể
hướng dẫn con cái mình ngay từ bây giờ giúp chúng có được những lợi thế
đặc biệt để một ngày nào đó chúng ta có thể tự hào. Biết đâu bạn sẽ trở thành
bố mẹ của những Bill Gates, hay của nhóm Beatles tương lai…
Với cuốn sách nhỏ này, bạn có thể tìm được những gợi ý đơn giản nhưng vô
cùng hữu hiệu cho con cái hoặc chính bản thân bạn.
Từ cách nhìn và những lập luận trong cuốn sách, suy nghĩ về Việt Nam,
chúng ta có thể thấy vì sao có những thế hệ vàng trong tất cả các lĩnh vực từ
thể thao đến khoa học hay trong xã hội, tại sao thành công của thế hệ này rất
khác biệt với thành công của thế hệ khác cũng như có thể dự đoán về thành
công của chính thế hệ mình…
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Hy vọng cuốn sách nhỏ này gợi mở
cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân cách thức hun đúc nguyên khí Việt Nam!
Tháng 7 – 2009
Lời giới thiệu
Bí ẩn Roseto
“NHỮNG NGƯỜI NÀY QUA ĐỜI VÌ TUỔI CAO. CÓ VẬY THÔI.”
1.
Roseto Valfortore nằm cách thành Rome khoảng một trăm dặm về phía đông
nam dưới chân đồi Apennine, thuộc tỉnh Foggia của Italia. Cũng giống như
những ngôi làng mang phong cách trung cổ, thị trấn này quây quần xung
quanh một quảng trường trung tâm rộng lớn. Đối diện với quảng trường là
Palazzo Marchesale − lâu đài của dòng họ Saggese, từng có thời là lãnh chúa
giàu có ở vùng này. Một lối đi có mái vòm bắt đầu từ một mé hướng thẳng ra
nhà thờ Madonna del Carmine. Những bậc thang đá hẹp chạy dọc lên sườn
đồi, áp liền hai bên là những căn nhà xây bằng đá lợp ngói đỏ san sát thành
cụm với nhau.
Trong suốt nhiều thế kỷ, những nông dân của Roseto làm việc ở các mỏ đá
hoa cương trong những quả đồi xung quanh, hay cấy cày trồng trọt trên các
thửa ruộng ở thung lũng phía dưới, cuốc bộ bốn hay năm dặm đường xuống
núi mỗi sớm mai và rồi lại cần mẫn đi hết quãng đường dài trở về khu đồi
khi chiều muộn. Cuộc sống thật gieo neo. Cư dân thị trấn không hề biết chữ,
nghèo tả tơi và chẳng có mấy hy vọng được cải thiện về mặt kinh tế cho đến
khi tin tức về mảnh đất của vận hội bên kia bờ đại dương chợt đến với
Roseto hồi cuối thế kỷ XIX.
Tháng Giêng năm 1882, một nhóm 11 người Roseto − mười người đàn ông
và một cậu trai − dong buồm đến New York. Đêm đầu tiên họ ngủ ngay trên
sàn quán Little Italia ở đường Mulberry, khu Manhattan. Sau đó họ liều thử
vận may đi về phía tây, cuối cùng đã tìm được việc làm trong một mỏ đá ác-
đoa cách mười chín dặm về phía tây thành phố New York, gần thị trấn
Bangor, bang Pennsylvania. Trong năm tiếp sau, mười lăm người Roseto rời
Italia để đến với nước Mỹ, vài người trong đó cũng dừng chân ở Bangor, sát
cánh với những người đồng hương trong mỏ đá ác-đoa. Những người nhập
cư ấy báo tin cho quê hương Roseto về miền đất hứa ở vùng Tân Thế Giới
và rất nhanh chóng hết nhóm người Roseto này theo chân nhóm người khác
gói ghém đồ đạc túi dết thẳng tiến tới Pennsylvania, cho tới khi lạch nguồn
nhập cư ban đầu trở thành một cơn lũ cuốn. Chỉ tính riêng năm 1894, khoảng
một nghìn hai trăm người gốc Roseto đã xin hộ chiếu nhập cảnh Hoa Kỳ, để
lại tất cả lối phố nơi làng quê cũ của mình hoang liêu.
Người Roseto bắt đầu mua lại đất đai trên sườn đồi lổn nhổn đá nối với
Bangor bằng một con đường xe súc vật kéo mòn vẹt và dốc thoai thoải. Họ
xây dựng những căn nhà bằng đá hai tầng san sát thành cụm với mái lợp đá
ác đoa trên những con đường hẹp chạy ngoằn ngoèo lên xuống sườn đồi. Họ
dựng lên một nhà thờ, gọi nó là Madonna del Carmine và đặt tên con phố
chính nơi nhà thờ tọa lạc là Đại lộ Garibaldi − tên một vị đại anh hùng thống
nhất nước Italia. Thuở ban đầu, họ gọi thị trấn của mình là Tân Italia. Nhưng
rất nhanh sau đó họ đổi lại thành Roseto − cái tên dường như thích hợp nhất
để biểu thị rằng hầu hết họ đều đến từ cùng một ngôi làng ở Italia.
Vào năm 1896, Cha Pasquale de Nisco một mục sư trẻ tuổi năng động tiếp
quản công việc tại nhà thờ Madonna del Carmine. Cha De Nisco tạo dựng
những cộng đồng tôn giáo và tổ chức các dịp lễ lạt. Ông khuyến khích cư
dân thị trấn làm sạch đất đai, trồng hành tây, đậu đũa, khoai tây, dưa chuột
và các cây hoa quả trong những mảnh vườn phía sau nhà họ. Ông phân phát
hạt giống và hành củ. Cả thị trấn bừng bừng sinh khí. Người dân Roseto bắt
đầu nuôi lợn ở sau vườn và trồng nho để ủ rượu tại gia. Vài trường học, một
công viên, một tu viện và một nghĩa trang được xây dựng. Các cửa tiệm và
hàng bánh ngọt, nhà hàng và quán bar mở cửa dọc theo Đại lộ Garibaldi.
Hơn một tá nhà xưởng bung ra sản xuất áo choàng cho ngành may mặc. Thị
trấn Bangor láng giềng đa phần là người xứ Wales và Anh quốc, thị trấn kế
bên chủ yếu là người gốc Đức − dựa vào mối quan hệ căng thẳng giữa người
Anh với người Đức cũng như người Italia trong những năm tháng ấy − rõ
ràng thị trấn Roseto chỉ gồm toàn cư dân Roseto sinh sống mà thôi. Nếu bạn
dạo bước ngược xuôi những con phố Roseto − bang Pennsylvania trong một
vài thập niên sau năm 1900, bạn sẽ chỉ nghe thấy tiếng Italia, mà không phải
là thứ tiếng Italia nào khác ngoài loại phương ngữ miền Nam Foggia chuẩn
xác vốn được sử dụng ở Roseto. Roseto nằm trong lòng bang Pennsylvania
là một thế giới nhỏ bé riêng biệt tự cấp tự túc − tất cả, nhưng lại không hề
được những cộng đồng xung quanh biết tới − và có lẽ mọi việc sẽ vẫn duy trì
như thế nếu không xuất hiện một người đàn ông có tên Stewart Wolf.
Wolf vốn là một bác sĩ. Ông nghiên cứu về hệ tiêu hóa và dạ dày, dạy học tại
trường Y thuộc Đại học Oklahoma. Ông trải qua mùa hè tại một nông trại ở
Pennsylvania, không xa Roseto là mấy – dù có thế đương nhiên điều đó
chẳng ghê gớm gì, bởi Roseto quá đắm đuối trong thế giới biệt lập của riêng
mình đến mức dù ai đó sống ở ngay thị trấn kế bên cũng chẳng hay biết gì
nhiều về nó. “Một lần tôi về đó nghỉ hè − có lẽ là hồi cuối những năm 1950
− Tôi được mời đến nói chuyện tại một hội Y tế địa phương,” nhiều năm sau
đó Wolf kể lại trong một cuộc phỏng vấn. “Sau khi cuộc nói chuyện kết
thúc, một vị bác sĩ địa phương mời tôi đi làm một chầu bia. Trong khi chúng
tôi uống, anh ta nói, “Anh biết đấy, tôi đã hành nghề được mười bảy năm.
Bệnh nhân của tôi đến từ khắp mọi nơi, thế mà hầu như tôi chưa gặp một
trường hợp người Roseto nào dưới sáu lăm tuổi mắc bệnh tim.”
Wolf sửng sốt thực sự. Đó là vào hồi những năm 1950, nhiều năm trước khi
xuất hiện các loại biệt dược làm giảm cholesterol cũng như những biện pháp
tích cực hòng ngăn ngừa bệnh tim mạch. Những cơn đau tim là một thứ bệnh
dịch ở nước Mỹ. Chúng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đối với người
ở độ tuổi dưới 65. Nói theo cách thông thường là, không thể có chuyện anh
làm bác sĩ mà lại chưa gặp ca bệnh tim nào hết.
Wolf quyết định điều tra. Ông tranh thủ sự trợ giúp từ một số sinh viên và
đồng nghiệp ở Oklahoma. Họ tập hợp các giấy chứng tử của cư dân trong thị
trấn, lần ngược trở lại tối đa số năm mà họ có thể. Họ phân tích các ghi chép
y khoa. Họ xem xét lịch sử bệnh lý và xây dựng các phả hệ gia đình. “Chúng
tôi bận túi bụi,” Wolf nói. “Chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu sơ bộ.
Chúng tôi bắt đầu vào năm 1961. Vị thị trưởng đã nói, 'Tất cả các chị em gái
của tôi sẽ giúp đỡ các anh.' Ông ta có bốn chị em gái. Ông tiếp, 'Các anh có
thể sử dụng phòng họp của Hội đồng thị trấn.' Tôi hỏi lại, 'Thế các ông sẽ
họp hội đồng ở đâu?' Ông đáp lời, 'À vâng, chúng tôi sẽ hoãn lại một chút.'
Các bà các cô mang bữa trưa tới cho chúng tôi. Chúng tôi có những căn lều
nhỏ để lấy máu và làm điện tâm đồ (EKGs). Sau đó tôi trò chuyện với nhà
chức trách. Họ cho chúng tôi sử dụng trường học trong mùa hè. Chúng tôi
mời toàn bộ dân Roseto tới kiểm tra.
Kết quả thật đáng choáng váng. Ở Roseto, rõ ràng không có ai dưới độ tuổi
55 bị chết do đau tim hay có bất cứ dấu hiệu nào của bệnh tim. Với những
người trên 65 tuổi, tỉ lệ tử vong do bệnh tim ở Roseto chỉ khoảng bằng một
nửa so với tỷ lệ chung của nước Mỹ. Tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở
Roseto, trên thực tế còn thấp hơn 30 đến 35% so với dự tính.
Wolf lại mời tới một người bạn tên là John Bruhn − một nhà xã hội học ở
Oklahoma, để giúp đỡ ông. “Tôi thuê các sinh viên chuyên ngành y khoa và
các sinh viên xã hội học đã tốt nghiệp đến đây tiến hành phỏng vấn. Chúng
tôi đến từng nhà, trò chuyện với tất cả cư dân từ 21 tuổi trở lên,” Bruhn nhớ
lại. Việc ấy đã xảy ra hơn năm mươi năm về trước, thế mà trong giọng nói
của Bruhn vẫn đượm vẻ kinh ngạc khi ông miêu tả những gì họ phát hiện
được. “Không hề có tự tử, không nghiện rượu, không nghiện ma túy và rất ít
tội phạm. Không có ai phải sống dựa vào phúc lợi. Sau đó chúng tôi xem xét
đến các vết loét trong hệ tiêu hóa. Họ cũng chẳng hề mắc phải chút nào.
Những người này nếu chết đều do tuổi cao. Có vậy thôi.”
Những người trong giới y khoa của Wolf có một cái tên để gọi những nơi
như Roseto − một nơi nằm ngoài những trải nghiệm hàng ngày, nằm ngoài
những quy luật thông thường. Roseto là một Kẻ xuất chúng.
2.
Suy nghĩ đầu tiên của Wolf là người Roseto hẳn phải tuân thủ nghiêm ngặt
những thói quen ăn kiêng theo lối Cựu Thế Giới khiến họ khỏe khoắn hơn
hẳn những người Mỹ khác. Nhưng ông thấy ngay rằng điều đó không có căn
cứ. Người Roseto sử dụng mỡ lợn để nấu nướng thay vì dùng loại dầu ô-liu
lành mạnh hơn nhiều mà họ vốn vẫn sử dụng ở Italia. Pizza ở Italia là cùi
bánh mỏng với muối, dầu và có thể thêm chút cà chua, cá trống hay hành
tây. Pizza ở Pennsylvania là bánh bột mỳ nhào cộng thêm xúc xích, hạt tiêu,
xúc xích Italia, thịt xông khói và đôi khi cả trứng nữa. Những loại đồ ngọt
như bánh biscotti và tarralli thường được dành cho dịp Giáng sinh và Lễ Tạ
ơn; nhưng ở Roseto họ dùng chúng quanh năm suốt tháng. Khi Wolf nhờ các
chuyên gia về dinh dưỡng phân tích thói quen ăn uống điển hình của người
Roseto, họ phát hiện ra con số ghê gớm là 41% lượng calori trong khẩu phần
ăn của người Roseto có nguồn gốc từ chất béo. Đây cũng không phải là một
thị trấn mà người dân thức dậy từ tinh mơ để tập yoga hay chạy bộ quãng
đường sáu dặm liền. Người Roseto ở Pennsylvania nghiện thuốc rất nặng và
nhiều người phải vật lộn với bệnh béo phì.
Nếu chế độ ăn kiêng và tập luyện không giải thích được cho những phát hiện
về sức khỏe, vậy nguồn gốc di truyền thì sao? Người Roseto là một nhóm
gắn bó khăng khít đến từ cùng một vùng đất của nước Italia, và suy nghĩ tiếp
theo của Wolf là tự hỏi xem liệu những người này có phải thành viên trong
cả một dòng tộc khỏe mạnh dạn dày khác thường bảo vệ họ khỏi tật bệnh
hay không. Nghĩ vậy nên ông đã truy dấu họ hàng thân thích của người
Roseto sống rải rác ở những vùng khác của nước Mỹ để xem liệu họ có cùng
chung hưởng thứ sức khỏe tráng kiện đáng nể như những người anh em ở
Pennsylvania hay không. Họ không hề.
Tiếp theo ông xem xét đến khu vực địa lý mà người Roseto sinh sống. Liệu
có khả năng nào việc sinh sống ở vùng chân đồi phía đông Pennsylvania lại
có thứ gì đó tốt cho sức khỏe của họ không? Hai thị trấn gần kề Roseto nhất
là Bangor, chỉ xuôi phía dưới khu đồi và Nazareth, cách đó vài dặm. Cả hai
thị trấn đều có quy mô cỡ như Roseto và dân chúng đều là người châu Âu
nhập cư làm lụng chăm chỉ tương tự nhau. Wolf sục sạo tất cả ghi chép y
khoa của cả hai thị trấn. Ở lứa tuổi trên 65, tỉ lệ tử vong do bệnh tim ở cả
Nazareth và Bangor đều cao gấp ba lần so với Roseto. Lại sa vào ngõ cụt.
Điều Wolf bắt đầu ngộ ra là bí mật của Roseto không nằm ở chế độ ăn kiêng
hay tập luyện hay di truyền hay địa thế. Đó phải là chính bản thân Roseto.
Khi Bruhn và Wolf dạo bộ quanh thị trấn, họ đã phát hiện ra nguyên cớ tại
sao. Họ chính mắt trông thấy cách người Roseto thăm hỏi nhau, dừng lại trò
chuyện bằng tiếng Italia trên đường phố, hay nấu nướng giúp nhau ngay
trong vườn sau nhà. Họ đã hiểu về hệ thống đại gia đình nâng đỡ cả cấu trúc
xã hội của thị trấn. Họ chứng kiến các gia đình với ba thế hệ cùng chung
sống dưới một mái nhà cũng như các bậc ông bà được tôn kính đến thế nào.
Họ đến chỗ đám đông tụ tập ở nhà thờ Madonna del Carmine và cảm nhận
được hiệu ứng của sự thống nhất và bình an của nhà thờ. Họ đếm được hai
mươi hai tổ chức dân sự khác nhau tồn tại trong một thị trấn chỉ vỏn vẹn hai
nghìn dân. Họ để mắt tới đặc tính bình quân chủ nghĩa nổi bật của cộng
đồng, ngăn cản những kẻ giàu có phô trương và giúp cho những người kém
thành công che giấu bớt thất bại.
Trong quá trình di thực văn hóa dân cư vùng nam Italia đến khu đồi miền
đông Pennsylvania, người Roseto đã sáng tạo nên cả một cấu trúc xã hội
vững chãi và kiên cố đủ khả năng cô lập họ khỏi những áp lực đến từ thế
giới hiện đại. Người Roseto khỏe khoắn bởi chính nơi họ xuất thân, bởi
chính thế giới mà họ đã sáng tạo nên cho mình ngay trong khu thị tứ nhỏ bé
giữa vùng đồi núi.
“Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên đặt chân tới Roseto, bạn sẽ trông thấy ngay những
bữa ăn của các gia đình ba thế hệ chung sống, những tiệm bánh mỳ, người
dân dạo bước qua lại trên đường phố, ngồi ở hàng hiên trò chuyện với nhau,
những phân xưởng may mặc nơi phụ nữ miệt mài làm việc cả ngày dài, trong
khi đàn ông làm việc trong những mỏ đá ác-đoa,” Bruhn nói. “Thật kỳ diệu!”
Khi Bruhn và Wolf lần đầu tiên công bố những phát hiện của mình trước
giới y học, bạn có thể tưởng tượng ra ngay thái độ hoài nghi mà hai người
bọn họ phải đối mặt. Họ bước vào những phòng hội thảo nơi các đồng sự đã
bày sẵn hàng dãy dằng dặc số liệu sắp vào những bảng biểu phức tạp liên
quan đến loại gene này hay quy trình sinh lý học khác, và chính bản thân
những người đó lại phát ngôn thay vì được nghe nói về những tác dụng kỳ lạ
và thần diệu của việc người ta dừng bước để trò chuyện với nhau trên đường
phố hay ba thế hệ gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà. Để có một
cuộc sống trường thọ, trí tuệ tập thể khi đó khẳng định rằng, việc đó xét trên
phạm vi rộng phụ thuộc vào cái chúng ta là ai − đúng thế, chính là mã di
truyền (gene). Nó tùy thuộc vào những quyết định chúng ta đưa ra − về việc
chúng ta lựa chọn ăn thức gì, chúng ta lựa chọn tập tành bao nhiêu, và cả
việc hệ thống y tế điều trị hiệu quả tới mức nào. Không một ai quen với việc
suy nghĩ về sức khỏe trên khía cạnh cộng đồng.
Wolf và Bruhn phải thuyết phục giới y khoa suy nghĩ về sức khỏe và các
bệnh tim mạch theo một phương cách hoàn toàn mới mẻ: hai người buộc
phải chỉ cho bọn họ thấy rằng sẽ không thể hiểu được tại sao một người nào
đó lại khỏe mạnh nếu tất cả những gì người đó làm chỉ là nghĩ về những lựa
chọn hay hành động của một cá nhân riêng rẽ biệt lập. Họ buộc phải nhìn
rộng hơn, ra ngoài cá thể đó. Họ buộc phải hiểu về nền văn hóa mà anh ta/cô
ta là một phần cấu thành trong đó, hiểu xem bè bạn và gia đình của người đó
ra sao, xem nơi chốn mà họ xuất thân thế nào. Người trong giới y học sẽ phải
coi trọng ý tưởng rằng những giá trị của thế giới mà chúng ta đang sinh sống
cũng như những người vây bọc quanh ta có tác động sâu sắc đến việc định
hình nên mỗi chúng ta.
Trong cuốn sách Những kẻ xuất chúng này, tôi muốn lý giải về thành công
giống như cách Stewart Wolf đã lý giải cho chúng ta về sức khỏe.
Phần Một
CƠ HỘI
Chương I. Hiệu ứng Matthew
VÌ PHÀM AI ĐÃ CÓ, THÌ ĐƯỢC CHO THÊM VÀ SẼ CÓ DƯ THỪA;
CÒN AI KHÔNG CÓ, THÌ NGAY CÁI ĐANG CÓ, CŨNG SẼ BỊ LẤY ĐI.
Matthew 25:29
1.
Vào một ngày mùa xuân ấm áp tháng Năm năm 2007, hai đội Medicine Hat
Tigers và Vancouver Giants chạm trán nhau trong giải vô địch khúc côn cầu
Memorial Cup ở Vancouver, bang British Columbia, Canada. Tigers và
Giants là hai đội xuất sắc nhất Giải ngoại hạng khúc côn cầu Canada, cũng
chính là giải vô địch khúc côn cầu trẻ chất lượng nhất thế giới. Đây đều là
những ngôi sao tương lai của môn thể thao − những tuyển thủ mười bảy,
mười tám và mười chín tuổi, những người đã trượt băng và đánh bóng từ hồi
họ mới chỉ là các cậu bé vừa chập chững biết đi.
Trận đấu được phát sóng trên kênh truyền hình quốc gia Canada. Ngược
xuôi trên những con đường khu trung tâm buôn bán của Vancouver, các
băng rôn về Memorial Cup treo phấp phới ở các trụ đèn. Sân vận động chật
cứng người. Một dải thảm đỏ trải dài trên mặt băng và xướng ngôn viên giới
thiệu những vị tai to mặt lớn dự khán trận đấu. Đầu tiên là Thủ hiến bang
British Columbia − ngài Gordon Campbell. Tiếp đó, giữa những tràng pháo
tay náo động, Gordie Howe − một trong những huyền thoại của môn thể thao
này bước ra. “Thưa các quý bà và quý ông,” xướng ngôn viên hô lớn. “Đây
là Ngài Hookey!”
Trong sáu mươi phút tiếp sau, cả hai đội đã cống hiến một trận khúc côn cầu
hừng hực khí thế và giằng co quyết liệt. Vancouver ăn bàn trước, ngay đầu
hiệp hai, trong một cú bật bóng của Mario Bliznak. Đến cuối hiệp hai, tới
lượt Medicine Hat ghi điểm, khi tay săn bàn hàng đầu Darren Helm châm
ngòi một cú đánh nhanh vượt qua thủ thành Vancouver − Tyson Sexsmith.
Vancouver đáp trả vào hiệp ba, ghi được bàn thắng quyết định của trận đấu
và rồi, khi Medicine Hat để mặc thủ thành của mình chống đỡ tuyệt vọng,
Vancouver đã ghi bàn lần thứ ba.
Sau trận đấu, các tuyển thủ và gia đình của họ cũng như phóng viên thể thao
trên khắp Canada len lỏi chen chúc vào phòng thay đồ của đội thắng trận.
Bầu không khí nồng nặc khói thuốc lá, hơi sâm-panh và trang phục đấu khúc
côn cầu ướt đẫm mồ hôi. Trên tường treo một dải băng rôn vẽ tay: “Nắm
chắc cuộc chơi.” Ở chính giữa căn phòng, huấn luyện viên đội Giants, ông
Don Hay tỏ ra đầy xúc động. “Tôi quá tự hào về những chàng trai này,” ông
nói. “Cứ nhìn quanh phòng thay đồ mà xem. Tất cả bọn họ đều dốc toàn tâm
toàn ý vào trận đấu.”
Môn khúc côn cầu ở Canada đúng là một hệ thống tuyển lựa nhân tài. Hàng
nghìn cậu bé Canada bắt đầu chơi môn thể thao này ở cấp độ “học nghề”
thậm chí còn trước khi chúng đi nhà trẻ. Từ thời điểm đó trở đi, đã có đủ các
giải vô địch cho mọi lứa tuổi, và ở mỗi cấp độ như thế, các tuyển thủ lại
được sàng lọc, phân loại, đánh giá và kết quả là những tay chơi tài năng nhất
sẽ được tách riêng và chuẩn bị cho cấp độ tiếp theo. Khi các tuyển thủ này
bước vào độ tuổi từ 13 đến 19, những người xuất sắc nhất trong số này lại
được thi thố trong một giải đấu danh giá có tên là Major Junior A, chính là
đỉnh của kim tự tháp. Và nếu đội bóng Major Junior A của bạn được chơi ở
Memorial Cup, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang ở đỉnh chóp của kim tự
tháp.
Đây chính là con đường chọn lựa những ngôi sao tương lai ở hầu hết các
môn thể thao. Đây là cách thức chọn lựa của môn bóng đá ở châu Âu và
Nam Mỹ, cũng là cách các vận động viên Olympic được tuyển lựa. Cách
thức này, cũng không nhiều khác biệt lắm so với cách mà nghệ thuật âm
nhạc cổ điển lựa chọn những nghệ sĩ bậc thầy trong tương lai, nghệ thuật vũ
ba lê tuyển chọn những nghệ sĩ múa tương lai, hay các hệ thống giáo dục
tinh hoa lựa chọn ra các nhà khoa học và trí thức kế tiếp của mình.
Bạn không thể nào mua tấm vé tham dự giải khúc côn cầu Major Junior A.
Bất kể cha mẹ bạn là ai, ông bạn ghê gớm ra sao, hay gia đình bạn làm
ngành nghề gì. Cũng chẳng hề hấn gì nếu như bạn sống ở tận ngõ ngách hẻo
lánh nào đó của một tỉnh cực nam Canada. Nếu bạn có tài năng, mạng lưới
rộng lớn những người chiêu mộ và phát hiện tài năng khúc côn cầu cũng sẽ
tìm đến bạn, và nếu bạn tự nguyện chấp nhận phát triển năng lực ấy, hệ
thống sẽ tưởng thưởng cho bạn. Thành công trong môn khúc côn cầu được
dựa trên công trạng cá nhân − và cả hai từ đó đều quan trọng như nhau. Các
tuyển thủ được đánh giá thông qua những màn trình diễn của riêng họ,
không phải của ai khác, và dựa vào nền tảng tài năng của họ, chứ không phải
căn cứ vào những lập luận cứng nhắc nào đó.
Liệu có phải như vậy?
2.
Đây là một cuốn sách nói về những kẻ xuất chúng, về những con người làm
được những việc vượt ra khỏi chuẩn mực thông thường. Theo diễn tiến của
những chương tiếp sau, tôi sẽ lần lượt giới thiệu đến các bạn các dạng “ngoại
hạng”: thiên tài khoa học, tài phiệt kinh doanh, ngôi sao ca nhạc, các lập
trình viên phần mềm. Chúng ta sẽ hé lộ bí mật của những luật sư danh tiếng,
tìm hiểu xem điều gì khác biệt giữa những phi công cừ nhất với những người
làm nổ máy bay, và thử phát hiện xem tại sao người châu Á lại giỏi Toán đến
vậy. Trong khi khảo sát cuộc sống của những người nổi bật ngay giữa chúng
ta − những người tài khéo, giỏi giang, tiên phong − tôi sẽ khẳng định rằng có
những sai lầm sâu sắc trong cách chúng ta nhìn nhận về thành công.
Câu hỏi chúng ta vẫn thường đặt ra khi nói về những người thành công là gì?
Chúng ta muốn xem họ ra sao − họ sở hữu tính cách như thế nào, họ thông
minh đến cỡ nào, phong cách của họ có gì đặc biệt, hay họ vốn sinh ra với
thứ tài năng thiên bẩm nào. Và chúng ta một mực cho rằng chính những
phẩm chất cá nhân đó đủ để giải thích cách một người đạt tới đỉnh cao.
Trong những cuốn tự truyện được các tỉ phú, doanh nhân, ngôi sao ca nhạc
hay những người nổi tiếng xuất bản nhan nhản hàng năm, câu chuyện lúc
nào cũng y nguyên một kiểu: người hùng của chúng ta được sinh ra trong
những hoàn cảnh gieo neo, nhờ những nỗ lực bền bỉ và tài năng mà đã tìm
được con đường đi đến sự vĩ đại. Trong Kinh thánh, Joseph vốn bị những
người anh em đuổi đi và bán làm nô lệ, sau đó vươn lên để trở thành cánh
tay phải của pharaoh là nhờ vào trí thông minh và tư duy xuất sắc của mình.
Trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng hồi thế kỉ XIX của Horatio Alger ,
những chàng trai trẻ sinh ra trong cảnh bần hàn vươn lên trở thành giàu có
nhờ vào sự kết hợp giữa lòng gan dạ quả cảm cộng với óc sáng tạo. “Tôi
nghĩ xét cho cùng đó là điều bất lợi,” Jeb Bush có lần đã bày tỏ về việc là
con trai của một Tổng thống Mỹ, em trai của một đời Tổng thống Mỹ khác
đồng thời là cháu của một thương gia ngân hàng Phố Wall kiêm nghị sĩ Hoa
Kỳ có ảnh hưởng ra sao tới sự nghiệp của riêng ông. Khi ông tranh cử chức
thống đốc bang Florida, ông nhấn đi nhấn lại về bản thân mình như một
“người tự lập,” và đó cũng là một thước đo thể hiện rằng chúng ta gắn chặt
thành công với những nỗ lực của cá nhân sâu sắc tới mức chẳng mấy người
còn để mắt tới lối diễn đạt đó nữa.
Nhiều năm về trước, trong buổi ra mắt tượng đài người anh hùng vĩ đại của
nền độc lập Hoa Kỳ − Benjamin Franklin , Robert Winthrop nói với đám
đông công chúng: “Hãy ngẩng đầu, hướng mắt vào hình ảnh của một người
vươn lên từ tay trắng, không được thừa hưởng chút nào từ dòng dõi gia đình
hay các mối bảo trợ, người không được hưởng thụ những lợi ích từ giáo dục
ban đầu vốn chẳng rộng mở − lại hàng trăm lần rộng mở − với tất cả các bạn,
người đã đảm nhận những công việc con đòi người ở bậc nhất tại những nơi
ông làm, nhưng đã sống một cuộc đời vinh quang và chết đi nhưng danh
tiếng của ông cả thế giới sẽ chẳng bao giờ quên lãng.”
Trong cuốn Những kẻ xuất chúng, tôi muốn thuyết phục các bạn rằng những
kiểu giải thích mang tính cá nhân về thành công như thế không có tác dụng
gì. Con người ta không vươn lên từ chỗ hoàn toàn trắng trơn. Chúng ta vẫn
thừa hưởng ít nhiều gì đó từ dòng dõi gia đình hoặc sự bảo trợ. Những người
thành công trông có vẻ tự thân làm lụng mọi điều. Nhưng trên thực tế, họ
vẫn luôn là kẻ thụ hưởng những lợi thế ẩn giấu và những cơ may phi thường
cũng như những di sản văn hóa cho phép họ học hành, làm việc chăm chỉ và
nhìn nhận về thế giới bằng những cách thức mà kẻ khác không thể. Việc
chúng ta sinh trưởng ở đâu và vào thời gian nào rõ ràng làm nên những điều
khác biệt. Nền văn hóa mà chúng ta thuộc về và những di sản do ông bà tổ
tiên để lại đã định hình những khuôn mẫu thành công bằng những cách thức
mà chúng ta không tài nào tưởng tượng nổi. Nói cách khác, sẽ không đầy đủ
nếu chúng ta chỉ biết hỏi xem những người thành công có đặc điểm như thế
nào. Chỉ thông qua việc hỏi xem họ xuất thân từ đâu chúng ta mới có thể làm
sáng tỏ những lôgic đằng sau việc một số người thành công còn người khác
thì không.
Các nhà sinh vật học thường vẫn nói về “sinh thái học” của một sinh thể: cây
sồi cao lớn nhất trong rừng sở dĩ cao lớn nhất không phải chỉ bởi nó nảy ra
từ quả sồi cứng cáp nhất; nó là cây cao lớn nhất bởi không có cây cối nào
chặn mất ánh sáng mặt trời của nó, đất đai xung quanh nó vừa sâu vừa màu
mỡ, không có con thỏ nào gặm mất vỏ cây khi nó còn non tơ, và cũng không
có tay thợ rừng nào đốn hạ khi nó chưa đủ cứng cáp. Chúng ta đều biết
những cây sồi cao lớn vươn lên từ những hạt mầm cứng cỏi. Nhưng liệu
chúng ta có hiểu biết đủ nhiều về thứ ánh sáng mặt trời đã sưởi ấm cho
những hạt mầm đó, về thứ thổ nhưỡng mà trong đó chúng cắm sâu bộ rễ, và
cả những con thỏ hay tay thợ rừng mà chúng đủ may mắn tránh thoát không?
Nhưng đây không phải cuốn sách nói về những cây đại thụ. Đây là cuốn sách
nói về những khu rừng − và môn khúc côn cầu đúng là một xuất phát điểm
hợp lý bởi cách giải thích xem ai chiếm lĩnh đỉnh cao trong môn khúc côn
cầu thực sự thú vị và phức tạp hơn rất nhiều so với vẻ bên ngoài. Trên thực
tế, đúng là khác biệt rõ ràng.
3.
Dưới đây là danh sách tuyển thủ của đội Medicine Hat Tigers năm 2007.
Hãy đọc thật kỹ và thử xem liệu bạn có phát hiện ra điều gì lạ lùng trong đó
hay không.
Bạn có nhìn ra không? Đừng vội chán nản nếu bạn không thấy gì, bởi biết
bao nhiêu năm trong giới khúc côn cầu chẳng ai phát hiện ra được điều gì
đặc biệt cả. Tình trạng đó cứ duy trì cho tới tận giữa thập niên 1980, khi một
nhà tâm lý học người Canada tên là Roger Barnsley lần đầu tiên khiến người
ta chú ý đến những hiện tượng tương ứng với lứa tuổi.
Barnsley đến xem một trận đấu khúc côn cầu của đội Lethbridge Broncos ở
nam Alberta − một đội bóng cũng chơi ở giải Major Junior A, hệt như
Vancouver Giants hay Medicine Hats Tigers. Ông đến đó cùng vợ là Paula
và hai cậu con trai. Người vợ đọc kỹ danh sách khi đi ngang qua bảng niêm
yết tuyển thủ hệt như bảng tên bạn nhìn thấy ở trên.
“Roger,” cô gọi, “anh có biết những cậu trai này sinh vào khi nào không?”
Barnsley nói có. “Chúng đều trong lứa từ mười sáu đến hai mươi, thế nên
phải sinh vào khoảng cuối những năm 1960.”
“Không, không phải thế,” Paula tiếp tục. “Tháng nào cơ?”
“Tôi nghĩ là cô ấy rỗi việc quá,” Barnsley nhớ lại. “Nhưng tôi ngó qua đó, và
tôi chợt hiểu điều mà cô ấy thắc mắc. Bởi một nguyên cớ nào đó, xuất hiện
một số lượng đáng kinh ngạc ngày sinh ở tháng Một, Hai và Ba.”
Barnsley trở về nhà đêm ấy và kiểm tra ngày sinh tháng đẻ của tất cả những
vận động viên khúc côn cầu chuyên nghiệp mà ông có thể tìm ra. Ông nhận
ra mẫu hình tương tự. Sau đó Barnsley, vợ ông và một đồng sự − A. H.
Thompson đã cùng nhau thu thập số liệu của mọi tuyển thủ trong giải vô
địch khúc côn cầu Ontario Junior. Câu chuyện vẫn như vậy. Có nhiều cầu
thủ sinh vào tháng Giêng hơn bất cứ tháng nào khác, và với mức chênh lệch
áp đảo. Thế còn tháng sinh phổ biến thứ hai thì sao? Chính là tháng Hai.
Đứng thứ ba? Là tháng Ba. Barnsley phát hiện ra rằng số tuyển thủ chơi ở
giải vô địch Ontario Junior sinh vào thá...
 





